Giao lưu trực tuyến: “Sau những tổn thương: Ai đồng hành để trẻ được sống an toàn?”
TEVN
Sáng nay (13/5/2026), Tạp chí Trẻ em Việt Nam tổ chức chương trình giao lưu trực tuyến với chủ đề: “Sau những tổn thương: Ai đồng hành để trẻ được sống an toàn?”, tiếp nối chuỗi đối thoại về bảo vệ trẻ em đang nhận được sự quan tâm lớn từ dư luận.
Sau chương trình, Tòa soạn nhận được nhiều phản hồi, chia sẻ và câu hỏi liên quan đến bạo lực gia đình, xâm hại trẻ em và các giải pháp hỗ trợ trẻ sau tổn thương.
Tiếp nối sự quan tâm đó, sáng nay, Tạp chí Trẻ em Việt Nam tiếp tục tổ chức chương trình giao lưu trực tuyến với chủ đề “Sau những tổn thương: Ai đồng hành để trẻ được sống an toàn?”.
Chương trình tập trung vào thực tế rằng nhiều trẻ em sau bạo hành vẫn phải trải qua hành trình dài để được bảo vệ, chữa lành và tái hòa nhập cuộc sống. Từ đó, các khách mời sẽ cùng phân tích những “khoảng trống” trong công tác bảo vệ trẻ em hiện nay, từ góc độ chính sách, chuyên môn đến trải nghiệm thực tiễn.
Tham gia chương trình có TS. Đào Trung Hiếu - chuyên gia tội phạm học; bà Ninh Thị Hồng - nguyên Phó Chủ tịch Thường trực Hội Bảo vệ quyền trẻ em Việt Nam và MC Quyền Linh - Ủy viên Ban Chấp hành Hội Bảo vệ quyền trẻ em Việt Nam.
Chương trình kỳ vọng mang đến góc nhìn đa chiều cùng những đề xuất thiết thực nhằm xây dựng môi trường sống an toàn cho trẻ em, nơi các em được lắng nghe, đồng hành và bảo vệ từ gia đình, nhà trường đến cộng đồng và toàn xã hội.
Quý độc giả quan tâm có thể tiếp tục gửi câu hỏi về Tòa soạn qua địa chỉ email: toasoantevn@gmail.com. Các câu hỏi sẽ được chuyển tới chuyên gia giải đáp trong thời gian sớm nhất.
11h05:11h15
Độc giả Khánh Vy (Phú Thọ) gửi câu hỏi tới bà Ninh Thị Hồng: Theo bà, hiện nay việc chăm sóc sức khỏe tâm thần cho trẻ em bị bạo hành đã được quan tâm đúng mức hay chưa? Những khoảng trống lớn nhất hiện nay nằm ở đâu: phát hiện sớm, tư vấn tâm lý, can thiệp chuyên sâu hay đồng hành lâu dài với trẻ?
Bà Ninh Thị Hồng: Khi một đứa trẻ bị đánh đập, có thương tích, gãy tay, gãy chân hay những tổn thương thể chất khác thì chúng ta thường nhanh chóng đưa các cháu đến bệnh viện để điều trị, bó bột, phục hồi chức năng. Nhưng những sang chấn tâm lý, nỗi sợ hãi và cảm giác bất an kéo dài trong tâm hồn trẻ lại dễ bị bỏ quên hoặc chưa được hỗ trợ đúng cách.
Nếu nói về khoảng trống lớn nhất hiện nay trong công tác bảo vệ trẻ em, tôi cho rằng đó chính là việc phòng ngừa và phát hiện sớm nguy cơ bạo hành. Phần lớn các vụ việc chỉ được dư luận chú ý sau khi hậu quả nghiêm trọng đã xảy ra, báo chí lên tiếng, cộng đồng mới bày tỏ xót thương. Nhưng điều quan trọng nhất là làm sao để trẻ em không trở thành nạn nhân ngay từ đầu thì chúng ta lại chưa thực sự đầu tư đúng mức.
Theo tôi, ngăn ngừa bạo hành trẻ em mới là vấn đề cần được ưu tiên hàng đầu hiện nay.
Bên cạnh đó, công tác phát hiện sớm cũng còn rất nhiều bất cập. Có những trường hợp bạo hành diễn ra trong thời gian dài nhưng không ai phát hiện, hoặc có phát hiện thì lại xảy ra tình trạng đùn đẩy trách nhiệm giữa các cơ quan. Ngành y tế có thể cho rằng họ chỉ điều trị khi trẻ bị thương tích. Trong khi hệ thống quản lý trẻ em trước đây thuộc ngành lao động - thương binh và xã hội thì nay đã thay đổi, nhiều nhiệm vụ được chuyển về cấp xã, phường hoặc phân tán sang các đơn vị khác.
Trong bối cảnh bộ máy đang được sắp xếp lại, số lượng người dân ở mỗi địa bàn ngày càng đông hơn, tôi rất băn khoăn liệu mạng lưới cộng tác viên ở cơ sở có đủ khả năng phát hiện sớm các nguy cơ hay không. Những người làm công tác này có được tập huấn đầy đủ không, có được hỗ trợ để nhận diện dấu hiệu trẻ bị bạo hành và biết cách can thiệp hay không?
Tôi nghĩ đây là thách thức rất lớn trong giai đoạn cải cách hiện nay. Cải cách là cần thiết, nhưng điều quan trọng là dù tổ chức bộ máy thay đổi thế nào thì trẻ em vẫn phải được bảo vệ một cách hiệu quả. Chúng ta cần có mạng lưới đủ mạnh ở cộng đồng, cần truyền thông rộng rãi và trang bị kỹ năng cho những người ở tuyến cơ sở để họ có thể phát hiện sớm, can thiệp sớm và ngăn chặn các vụ việc đau lòng xảy ra với trẻ em.
Độc giả Minh Thành (Cà Mau) gửi câu hỏi tới TS. Đào Trung Hiếu: Trong nhiều vụ việc, sau khi được giải cứu, trẻ lại quay trở về chính môi trường từng gây tổn thương cho mình. Theo ông, điều này cho thấy khoảng trống gì trong cơ chế đánh giá nguy cơ tái bạo hành và bảo vệ trẻ sau can thiệp?
TS. Đào Trung Hiếu: Điều này cho thấy chúng ta vẫn còn thiếu một cơ chế đánh giá nguy cơ tái bạo hành và kế hoạch bảo vệ dài hạn cho trẻ sau can thiệp. Trong nhiều trường hợp, việc giải cứu mới chỉ dừng ở xử lý tình huống trước mắt, trong khi câu hỏi quan trọng hơn là: liệu môi trường mà đứa trẻ quay trở về đã thực sự an toàn hay chưa? Người gây bạo lực đã thay đổi hành vi hay chỉ tạm thời bị ngăn chặn? Có ai đủ chuyên môn theo dõi tâm lý và mức độ an toàn của trẻ sau đó hay không?
Theo tôi, bảo vệ trẻ em không thể chỉ dừng ở việc đưa đứa trẻ ra khỏi nguy hiểm trong một thời điểm. Điều quan trọng là phải đánh giá toàn diện nguy cơ tái bạo hành, bao gồm yếu tố tâm lý của người gây bạo lực, môi trường gia đình, điều kiện sống, khả năng giám sát của cộng đồng và trạng thái tinh thần của chính đứa trẻ. Nếu thiếu các bước này thì nguy cơ trẻ tiếp tục bị tổn thương là rất lớn.
Một đứa trẻ được giải cứu nhưng lại buộc quay trở về đúng môi trường từng gây tổn thương cho mình thì về mặt tâm lý, đó có thể là một dạng tái sang chấn. Các em sẽ hình thành cảm giác rằng không ai thực sự bảo vệ được mình và mọi nỗ lực kêu cứu rồi cuối cùng cũng không thể thay đổi điều gì. Cảm giác bất lực đó có thể để lại hậu quả tâm lý rất lâu dài.
Trong thực tế, có những trường hợp trẻ quay về gia đình nhưng người gây bạo lực chưa được can thiệp tâm lý, chưa được kiểm soát hành vi hoặc áp lực kinh tế, xung đột gia đình vẫn còn nguyên. Khi đó, môi trường gây bạo lực thực chất chưa hề được xử lý tận gốc. Nếu không có cơ chế giám sát sau can thiệp, không có người theo dõi thường xuyên và không có hệ thống hỗ trợ xã hội đủ mạnh thì việc “đưa trẻ về nhà” đôi khi chỉ là đưa các em quay lại nơi nguy hiểm cũ.
Theo tôi, một hệ thống bảo vệ trẻ em hiệu quả không chỉ đo bằng khả năng giải cứu, mà còn phải đo bằng khả năng bảo đảm rằng đứa trẻ sẽ không tiếp tục bị tổn thương sau khi được cứu ra.
Độc giả Thái Nguyên gửi câu hỏi tới MC Quyền Linh: Có khi nào anh nhận ra rằng một câu nói tưởng như bình thường của người lớn lại có thể khiến trẻ nhớ và tổn thương rất lâu?
MC Quyền Linh: Có đấy! Người lớn nhiều khi làm tổn thương trẻ bằng những câu nói rất vô tình. Chẳng hạn: “Sao con không giỏi như bạn?”, “Sao con không ngoan bằng đứa bên cạnh?”, “Con học dốt quá”, “Con làm ba mẹ xấu hổ với hàng xóm”… Người lớn nói xong có thể quên, nhưng trẻ thì nhớ rất lâu.
Có những câu nói trở thành nỗi ám ảnh. Khi cha mẹ nói: “Con mà không học giỏi thì ba mẹ buồn lắm”, “Con mà không đỗ thì ông bà sẽ thất vọng”, “Con làm không được là ba mẹ xấu hổ”, đứa trẻ sẽ mang theo cảm giác mình đang gánh danh dự, niềm vui, nỗi buồn của cả gia đình. Áp lực ấy rất nặng.
Đôi khi trẻ không phản ứng ngay. Các em vẫn im lặng, vẫn học, vẫn nghe lời, nhưng bên trong là nỗi lo nơm nớp. Trẻ sợ làm sai, sợ không đạt kỳ vọng, sợ bị so sánh, sợ làm cha mẹ thất vọng. Vì vậy, người lớn cần cẩn trọng với lời nói của mình. Một câu nói có thể là động lực, nhưng cũng có thể trở thành vết thương tinh thần nếu thiếu sự yêu thương và tôn trọng. Nhiều cha mẹ nghĩ con vẫn ăn uống, vẫn đi học bình thường là không có vấn đề gì. Nhưng thật ra có những dấu hiệu rất nhỏ: trẻ ít nói hơn, hay cáu gắt hơn, thu mình, ngại giao tiếp, sợ về nhà, mất ngủ hoặc lúc nào cũng lo mình làm chưa đủ tốt. Người lớn cần tinh ý để nhận ra cảm xúc của con trước khi mọi chuyện trở nên nghiêm trọng.
10h45-11:05
Độc giả Trường Giang (Đà Nẵng) gửi câu hỏi tới bà Ninh Thị Hồng: Trong một số trường hợp gần đây, cha mẹ của trẻ còn rất trẻ tuổi, thiếu sự chuẩn bị về tâm lý, kỹ năng sống và kỹ năng làm cha mẹ. Theo bà, xã hội cần hỗ trợ gì để những người làm cha mẹ quá sớm không rơi vào khủng hoảng và hạn chế nguy cơ tổn thương đối với trẻ?
Bà Ninh Thị Hồng: Dù Việt Nam hiện nay chưa rơi vào tình trạng già hóa dân số nghiêm trọng như một số quốc gia khác - nơi người trẻ ngại kết hôn, ngại sinh con, nhưng thực tế chúng ta cũng đang bắt đầu đối mặt với nhiều vấn đề liên quan đến chất lượng đời sống gia đình và việc chuẩn bị làm cha mẹ của người trẻ.
Điều tôi đặc biệt trăn trở là nhiều gia đình hiện vẫn chưa chuẩn bị đầy đủ kiến thức và kỹ năng cho con cái, nhất là các bé gái, trước khi bước vào hôn nhân và làm mẹ. Từ chuyện yêu đương, mang thai, sinh con cho tới chăm sóc con nhỏ, rất nhiều bạn trẻ gần như không được trang bị đầy đủ.
Nhiều bà mẹ bản thân cũng không có kỹ năng để chia sẻ, hướng dẫn cho con gái mình hiểu về trách nhiệm của hôn nhân, việc sinh con hay chăm sóc con cái. Trong khi đó, không ít bạn trẻ yêu đương quá sớm, thiếu kiến thức bảo vệ bản thân dẫn tới mang thai ngoài ý muốn. Đến khi sinh con rồi mới nhận ra cuộc sống gia đình không giống như những tưởng tượng đẹp đẽ trước đó.
Khi đứa trẻ ra đời, áp lực kinh tế, chuyện con ốm đau, quấy khóc, mâu thuẫn tình cảm… bắt đầu xuất hiện. Nhiều cặp đôi xảy ra cãi vã, chia tay, rồi người mẹ lại bước vào các mối quan hệ mới. Trong khi người mới đến đôi khi chỉ quan tâm đến người phụ nữ chứ không thực sự yêu thương đứa trẻ. Và chính trong những hoàn cảnh đó, rất nhiều bi kịch đau lòng đã xảy ra, mà người phải gánh chịu cuối cùng lại là trẻ em.
Tôi cho rằng chúng ta cần có nhiều chính sách hỗ trợ hơn đối với các bà mẹ đơn thân, những phụ nữ nuôi con một mình hoặc những gia đình trẻ gặp khó khăn trong quá trình chăm sóc con cái. Điều quan trọng là họ phải có nơi để tìm đến khi cần chia sẻ, được tư vấn tâm lý, hỗ trợ kinh tế hoặc hỗ trợ nuôi dưỡng con trong giai đoạn khủng hoảng.
Nếu có những cơ chế hỗ trợ kịp thời, có thể nhiều đứa trẻ đã không rơi vào hoàn cảnh đau lòng như các vụ việc vừa qua - những em bé mới chỉ vài tuổi nhưng phải chịu bạo hành kéo dài từ chính người thân của mình.
Bên cạnh đó, tôi nghĩ chúng ta cũng cần nhìn lại công tác giáo dục kỹ năng sống và giáo dục hôn nhân gia đình cho giới trẻ hiện nay. Ngay từ cấp 2, cấp 3 hay thậm chí ở bậc đại học, cần có những chuyên đề giúp các em hiểu về tình yêu, hôn nhân, trách nhiệm làm cha mẹ và cách nuôi dạy con.
Hiện nay, nhiều tổ chức quốc tế cũng đã triển khai các chương trình rất thiết thực như “làm cha mẹ tốt”, “kỷ luật tích cực”, hướng dẫn cha mẹ kiểm soát cảm xúc và nuôi dạy con mà không dùng bạo lực. Đây là những mô hình rất tốt.
Tuy nhiên, thực tế là những chương trình này mới chủ yếu tiếp cận được các gia đình có điều kiện, có trình độ và chủ động tìm hiểu. Trong khi những nhóm dễ tổn thương hơn - như người trẻ thiếu kỹ năng sống, gia đình khó khăn, gia đình ở vùng sâu vùng xa - lại rất ít cơ hội tiếp cận.
Theo tôi, cần có cách truyền thông rộng rãi hơn để các cặp đôi trẻ, các bạn gái trẻ hoặc các gia đình mới có con có thể dễ dàng tiếp cận những kiến thức này. Bởi làm cha mẹ không chỉ là bản năng, mà cũng cần được học và được chuẩn bị một cách nghiêm túc.
Độc giả Thu Hương (Hưng Yên) gửi câu hỏi tới TS. Đào Trung Hiếu: Nhiều người biết hoặc nghi ngờ trẻ bị bạo hành nhưng vẫn chọn im lặng vì tâm lý “đó là chuyện riêng của gia đình”. Theo ông, làm thế nào để chuyển từ tâm lý “không muốn can thiệp” sang văn hóa chủ động bảo vệ trẻ em trong cộng đồng?
TS. Đào Trung Hiếu: Trước hết cần khẳng định rõ ràng bạo hành trẻ em không phải là chuyện riêng mà là hành vi vi phạm pháp luật và xâm phạm về quyền con người. Cần phải xây dựng nhận thức xã hội rằng báo tin về nguy cơ bạo lực, bạo hành không phải là xen vào đời tư mà là một hành động cứu giúp.
Trong nhiều vụ án tôi từng tìm hiểu, điều ám ảnh nhất không chỉ là hành vi bạo hành mà là sự im lặng kéo dài xung quanh đứa trẻ. Có những em bị bạo hành suốt thời gian dài nhưng hàng xóm nghe tiếng khóc mà không báo tin, giáo viên có thể cảm thấy điều gì đó không bình thường với học trò nhưng ngại va chạm. Sự im lặng đó vô tình tạo ra ‘vùng an toàn’ cho bạo lực tồn tại.
Khi cộng đồng hiểu rằng im lặng trước tiếng khóc của trẻ cũng đồng nghĩa với việc vô tình tiếp tay cho bạo lực thì văn hóa chủ động bảo vệ trẻ em mới có thể hình thành.
Độc giả Ạn Nhiên (Nghệ An) gửi câu hỏi tới MC Quyền Linh:Trong một số vụ việc đau lòng gần đây, trẻ bị bạo hành khi sống cùng mẹ và người bạn đời hoặc bạn trai của mẹ. Theo anh, điều này đặt ra cảnh báo gì về sự an toàn của trẻ trong môi trường gia đình hiện nay?
MC Quyền Linh: Những vụ việc trẻ em bị bạo hành ngay trong môi trường gia đình là điều rất đau lòng. Nó nhắc chúng ta rằng sự an toàn của trẻ phải được đặt lên hàng đầu trong mọi hoàn cảnh, kể cả khi gia đình có thay đổi, cha mẹ ly hôn hoặc người lớn bắt đầu một mối quan hệ mới.
Tôi nghĩ, nếu một người cha, người mẹ lựa chọn đi tiếp với một người bạn đời mới, điều đầu tiên cần nghĩ đến là con mình. Trẻ cần được chuẩn bị tâm lý, được lắng nghe, được quan sát và được bảo vệ. Người lớn không thể chỉ nghĩ cho cảm xúc của mình mà quên mất cảm giác an toàn của trẻ.
Thực tế cho thấy nhiều vụ bạo hành, xâm hại trẻ em lại liên quan đến người quen, thậm chí người thân. Vì quá tin tưởng, nhiều cha mẹ mất cảnh giác. Nhiều người vẫn nghĩ nguy hiểm với trẻ em đến từ ngoài xã hội, nhưng thực tế có khi nguy hiểm lại ở rất gần. Điều đó cho thấy bảo vệ trẻ em không thể chỉ là khẩu hiệu hay chờ đến khi xảy ra vụ việc đau lòng mới lên tiếng. Gia đình phải là nơi an toàn nhất của trẻ, chứ không phải nơi khiến trẻ sợ hãi nhất. Họ nghĩ đó là người thân, người quen, chắc sẽ thương con mình, nhưng chính sự chủ quan ấy có thể khiến trẻ rơi vào nguy hiểm.
Theo tôi, cha mẹ cần dạy con kỹ năng tự bảo vệ từ sớm. Trẻ phải biết cơ thể mình có những vùng riêng tư nào, người lớn không được phép đụng chạm ra sao, khi thấy bất an thì phải nói với ai, tìm sự giúp đỡ ở đâu. Nhưng quan trọng hơn, cha mẹ phải tạo được niềm tin để con dám nói. Nếu trẻ sợ cha mẹ, trẻ sẽ im lặng, mà sự im lặng đôi khi khiến nguy cơ kéo dài.
10h30-10h45
Độc giả Nguyễn Thu (Thanh Hoá) gửi câu hỏi tới bà Ninh Thị Hồng: Theo bà, vì sao nhiều vụ bạo hành trẻ em chỉ được phát hiện khi hậu quả đã rất nghiêm trọng? Tâm lý coi đây là “chuyện riêng của gia đình” đang ảnh hưởng như thế nào đến việc phát hiện và can thiệp sớm?
Bà Ninh Thị Hồng: Theo tôi, đây là vấn đề chúng ta cần lên án mạnh mẽ và quan trọng hơn là phải thay đổi nhận thức trong xã hội. Không thể tiếp tục tồn tại suy nghĩ “đèn nhà ai nhà nấy rạng” hay coi bạo hành trẻ em là chuyện riêng của mỗi gia đình. Trẻ em không chỉ là con của một gia đình nào đó, mà trước hết là công dân của đất nước. Đó là những công dân còn rất nhỏ tuổi, chưa đủ khả năng tự bảo vệ mình nên càng cần được cộng đồng và pháp luật bảo vệ.
Nhiều người vẫn nghĩ rằng “con tôi, tôi sinh ra thì tôi có quyền dạy”. Nhưng tôi cho rằng suy nghĩ đó là sai. Khi một đứa trẻ được khai sinh, em bé ấy đã là một công dân của xã hội này, điều này có nghĩa không phải cha mẹ muốn làm gì với con cũng được, bởi quyền của trẻ em đang được pháp luật bảo vệ.
Có thể thấy, người trưởng thành khi bị bạo hành, bị đe dọa có thể tự trình báo cơ quan chức năng để bảo vệ mình nhưng trẻ nhỏ thì không thể. Các em chưa biết lên tiếng, chưa biết tự vệ, nên xã hội mới cần có trách nhiệm bảo vệ trẻ em cho đến khi các em đủ trưởng thành.
Do đó, tôi nghĩ công tác truyền thông về vấn đề này phải mạnh mẽ hơn nữa, đặc biệt ở các đô thị lớn như Hà Nội hay TP.HCM. Ở thành phố, nhiều người có tâm lý “không phải việc của mình thì không quan tâm”. Trong khi ở các vùng quê hay cộng đồng nhỏ, dù mọi người hay nói chuyện, bàn tán với nhau và có thể nhiều người cho rằng đây là “nhiều chuyện”, nhưng thực tế nhờ sự để ý, trao đổi với nhau mà cộng đồng và chính quyền địa phương có thể nắm bắt dấu hiệu bất thường để can thiệp kịp thời.
Bên cạnh đó, lực lượng làm công tác trẻ em hiện nay còn rất mỏng, nhiều nơi không có cán bộ chuyên trách. Vì vậy, vai trò của cộng đồng càng trở nên quan trọng. Chúng ta cần tuyên truyền để mỗi người dân đều hiểu rằng bảo vệ trẻ em chính là bảo vệ một công dân của đất nước.
Nếu có ai nói rằng “con tôi thì tôi muốn làm gì cũng được”, thì phải nói rõ rằng họ đang hiểu sai. Đây không chỉ là con của họ, mà còn là một công dân được pháp luật bảo vệ. Không ai có quyền đánh đập, hành hạ hay xâm hại trẻ em dưới danh nghĩa dạy dỗ. Theo tôi, nhận thức này cần được truyền thông rộng rãi và mạnh mẽ hơn nữa.
Độc giả Minh Khương (Lạng Sơn) gửi câu hỏi tới TS. Đào Trung Hiếu: Theo ông, đâu là những biểu hiện hoặc yếu tố nguy cơ cho thấy một đứa trẻ đang sống trong môi trường có khả năng xảy ra bạo lực, ngay cả khi chưa xuất hiện thương tích rõ ràng? Vai trò của nhà trường, tổ dân phố và hàng xóm trong nhận diện sớm cần được đặt ra như thế nào?
TS. Đào Trung Hiếu: Trẻ có thể đột ngột thu mình, sợ hãi người lớn hay giật mình, học tập sa sút, thường xuyên nghỉ học, thiếu ăn, mất ngủ hoặc có những biểu hiện lo âu kéo dài. Một số trẻ lại trở nên hung hăng, dễ kích động hoặc bắt nạt bạn yếu hơn.
Về phía gia đình, các yếu tố nguy cơ gồm cha mẹ nghiện rượu, xung đột hôn nhân, thất nghiệp, thường xuyên chửi mắng hoặc cô lập trẻ. Nhà trường, tổ dân phố và hàng xóm cần phải coi những dấu hiệu này là những tín hiệu cảnh báo sớm để chủ động báo tin và kịp thời can thiệp.
Nhiều trẻ bị bạo hành không chủ động kêu cứu, các em thường mang tâm lý sợ hãi, mặc cảm, thậm chí bảo vệ chính người gây bạo lực vì lo gia đình tan vỡ hoặc bị bỏ rơi. Đây là lý do việc phát hiện sớm không thể chỉ chờ vào lời khai của trẻ.
Độc giả Đức Hải (Quảng Ninh) gửi câu hỏi tới MC Quyền Linh:Theo anh, vì sao nhiều cha mẹ rất thương con nhưng lại dễ làm con tổn thương bằng áp lực học hành, sự so sánh hoặc những lời nói trong lúc nóng giận?
MC Quyền Linh: Tôi nghĩ nhiều cha mẹ rất thương con, nhưng đôi khi chính vì thương con mà lại mong con phải giống người này, người kia. Cha mẹ thường nói: “Con nhìn bạn đó đi, bạn học giỏi như thế”, “Con phải cố giống bạn này, đạt được như bạn kia”. Những câu so sánh tưởng như để khích lệ nhưng có thể khiến trẻ cảm thấy mình luôn kém cỏi, luôn chưa đủ tốt trong mắt cha mẹ.
Bên cạnh đó, người lớn cũng chịu rất nhiều áp lực từ cuộc sống: cơm áo gạo tiền, công việc, tiền điện, tiền nước, đủ thứ chi phí. Có khi áp lực ấy không được giải tỏa đúng cách, rồi vô tình trút xuống con bằng sự nóng nảy, cáu gắt, kiểm soát hoặc im lặng.
Tôi từng thấy có những gia đình gần như giao hết việc dạy con cho nhà trường. Cha mẹ đi làm cả ngày, tối về mệt mỏi, ở chung một nhà nhưng cả tuần không thật sự ngồi xuống nói chuyện với con. Trong khi đó, trẻ lại rất cần được cha mẹ hỏi han, chia sẻ, lắng nghe.
Khi người lớn chỉ nhìn vào kết quả mà quên mất cảm xúc của con, đứa trẻ sẽ thiếu đi một khoảng không gian riêng để được thở, được là chính mình. Sự so sánh, áp đặt, la mắng hay im lặng kéo dài đều có thể trở thành một dạng bạo lực tinh thần.
Nhiều cha mẹ không biết rằng khi bị so sánh quá nhiều, đứa trẻ sẽ hình thành cảm giác giá trị của mình phụ thuộc vào thành tích và sự công nhận của người khác. Nguy hiểm hơn là có những em lớn lên luôn sống để làm hài lòng người khác, nhưng lại không biết bản thân mình thật sự muốn gì.
10h15-10h30
Độc giả Thuý Hằng (Hà Nội) gửi câu hỏi tới bà Ninh Thị Hồng:Từ thực tiễn nhiều năm làm công tác bảo vệ trẻ em, bà nhận thấy đâu là những dấu hiệu cảnh báo sớm của bạo hành trong gia đình mà cộng đồng hoặc người xung quanh cần đặc biệt lưu ý?
Bà Ninh Thị Hồng: Việc phát hiện sớm nguy cơ trẻ bị bạo hành không có một “công thức chung” áp dụng cho mọi trường hợp, bởi mỗi vụ việc lại có những biểu hiện và hoàn cảnh khác nhau.
Với những trẻ đã đi học, dấu hiệu bất thường thường dễ nhận ra hơn. Giáo viên, bạn bè có thể thấy trẻ đột nhiên gầy đi, xanh xao, buồn bã, sợ sệt hoặc học hành sa sút. Chỉ cần quan tâm một chút, người lớn hoàn toàn có thể đặt câu hỏi: “Vì sao em bé này lại thay đổi như vậy?”.
Nhưng với những trẻ còn non nớt hay quá nhỏ như 2 hay 4 tuổi, việc phát hiện khó hơn rất nhiều. Trẻ 4 tuổi chưa nói được lưu loát hay chưa diễn tả được hết ý nghĩa điều cần nói, còn trẻ 2 tuổi gần như chỉ biết phản ứng bằng tiếng khóc, la hét khi sợ hãi hoặc đau đớn. Vì thế, dấu hiệu thường chỉ nằm ở những biểu hiện rất nhỏ như trẻ ngày càng gầy yếu, ánh mắt lúc nào cũng hoảng sợ, hay khóc kéo dài bất thường. Cho nên việc có các dấu hiệu cảnh báo sớm phải dựa vào từng hoàn cảnh cụ thể và sự quan tâm thật sự của những người xung quanh.
Do đó, để phòng ngừa và phát hiện sớm nguy cơ trẻ bị bạo hành thì cộng đồng xung quanh đóng vai trò rất quan trọng. Ví dụ như ở các khu nhà trọ, khi có người mới chuyển đến sống cùng trẻ nhỏ, hàng xóm hoặc chủ nhà cũng nên để ý, tìm hiểu ở mức cần thiết. Đây không phải là tò mò đời tư, mà là sự quan tâm để bảo vệ trẻ em.
Chẳng hạn mình cần biết sơ bộ đây có phải là gia đình ổn định không, là con chung hay con riêng, mối quan hệ giữa những người trong nhà như thế nào… Vì thực tế nhiều vụ việc đau lòng xảy ra trong những hoàn cảnh gia đình phức tạp, cha dượng, mẹ kế hoặc những cặp đôi chỉ mới sống chung với nhau.
Tôi cũng nghĩ rằng cách cư xử và môi trường sống của người lớn phần nào phản ánh nguy cơ đối với trẻ. Nếu một gia đình có công việc ổn định, ứng xử lịch sự, biết chào hỏi, giao tiếp văn minh thì thường môi trường sống cũng tích cực hơn. Nhưng nếu thấy một người thường xuyên văng tục, cãi vã, sinh hoạt thất thường, quan hệ phức tạp thì những người xung quanh cũng nên lưu tâm hơn.
Đối với trẻ nhỏ, dấu hiệu dễ nhận thấy nhất nhiều khi chỉ là tiếng khóc kéo dài hoặc sự sợ hãi bất thường. Khi đó, hàng xóm hay chủ nhà trọ hoàn toàn có thể hỏi han xem em bé có bị ốm hay có chuyện gì xảy ra. Điều quan trọng là đừng giữ suy nghĩ “không phải chuyện nhà mình”. Bởi nếu chỉ cần một người phát hiện sớm, báo cho tổ dân phố, công an khu vực hoặc chính quyền địa phương, cơ quan chức năng có thể kịp thời rà soát, can thiệp và ngăn chặn những hậu quả đau lòng xảy ra với trẻ.
Từ thực tiễn nhiều năm làm công tác bảo vệ trẻ em, tôi thấy rằng đôi khi chỉ cần cộng đồng chú ý hơn một chút là đã có thể cứu được một đứa trẻ. Nhiều em nhỏ nhìn qua là có thể cảm nhận được sự bất an - các cháu không còn hồn nhiên, không vui vẻ, không được chăm sóc như những đứa trẻ bình thường khác. Nếu mọi người quan tâm và lên tiếng sớm hơn, có thể bi kịch đã không xảy ra.
Độc giả Quốc Huy (Đồng Nai) gửi câu hỏi tới TS. Đào Trung Hiếu: Theo ông, hiện nay công tác bảo vệ trẻ em đang gặp vấn đề lớn hơn ở khâu phòng ngừa sớm, phát hiện nguy cơ hay can thiệp sau bạo hành? Vì sao thưa ông?
TS. Đào Trung Hiếu: Theo tôi, điểm yếu lớn nhất hiện nay nằm ở khâu phòng ngừa sớm và phát hiện nguy cơ. Chúng ta thường phản ứng rất mạnh sau khi vụ việc đã gây hậu quả nghiêm trọng, thậm chí khi đứa trẻ đã mang thương tích nặng nề hoặc tổn thương tâm lý kéo dài, nhưng lại chưa xây dựng được một cơ chế đủ nhạy để nhận diện các dấu hiệu nguy hiểm từ trước đó.
Thực tế, bạo hành trẻ em hiếm khi xảy ra một cách đột ngột. Trước mỗi bi kịch thường tồn tại một quá trình leo thang âm thầm với rất nhiều tín hiệu cảnh báo như trẻ sợ hãi bất thường, thu mình, thay đổi hành vi, thường xuyên nghỉ học, suy sụp tinh thần hoặc sống trong môi trường gia đình có xung đột, nghiện ngập, bạo lực. Vấn đề là những tín hiệu ấy nhiều khi đã xuất hiện nhưng không được nhìn nhận như một nguy cơ cần can thiệp khẩn cấp.
Tôi cho rằng chúng ta hiện nay vẫn nặng về tư duy xử lý hậu quả hơn là quản trị nguy cơ. Nghĩa là xã hội thường chỉ thực sự lên tiếng khi vụ việc đã trở nên nghiêm trọng, trong khi điều quan trọng nhất của bảo vệ trẻ em phải là ngăn bạo lực xảy ra ngay từ đầu. Một đứa trẻ được bảo vệ thành công không phải là đứa trẻ được giải cứu sau bạo hành, mà là đứa trẻ chưa bao giờ phải trở thành nạn nhân.
Độc giả Tuệ Lâm (Bắc Ninh) gửi câu hỏi tới MC Quyền Linh: Là người thường xuyên tiếp xúc với nhiều gia đình và trẻ em, anh có cảm giác rằng trẻ em hôm nay đang chịu nhiều áp lực tinh thần hơn trước, đôi khi cô đơn hơn dù cuộc sống vật chất có thể đầy đủ hơn?
MC Quyền Linh: Tôi thấy trẻ em hôm nay chịu rất nhiều áp lực, đặc biệt là áp lực từ kỳ vọng của gia đình. Nhiều cha mẹ mong muốn con quá nhiều: học ở trường, rồi lại học thêm, học đàn, học múa, học vẽ, học ngoại ngữ, học thể thao… Lịch của trẻ kín đến mức nhiều em gần như không còn tuổi thơ đúng nghĩa. Ngày xưa trẻ em thiếu điều kiện vật chất, còn bây giờ nhiều em lại thiếu thời gian được sống đúng tuổi thơ của mình. Có những đứa trẻ từ nhỏ đã sống như người lớn: học liên tục, cạnh tranh liên tục, bị đánh giá liên tục. Các em có rất nhiều khóa học nhưng lại thiếu thời gian trò chuyện với cha mẹ, thiếu những bữa cơm gia đình, thiếu cảm giác được nghỉ ngơi thật sự.
Tôi nghĩ một đứa trẻ hạnh phúc không phải là một đứa trẻ lúc nào cũng phải đứng đầu, mà là một đứa trẻ vẫn còn giữ được sự hồn nhiên, sự tự tin và niềm vui sống
Có những đứa trẻ không được làm theo sở thích, đam mê hay năng lực của mình, mà phải đi theo mong muốn của cha mẹ, ông bà. Người lớn từng mơ ước con làm bác sĩ, kỹ sư, nghệ sĩ hay một nghề nào đó, rồi vô tình biến ước mơ của mình thành áp lực đặt lên vai con. Đứa trẻ khi ấy không còn được hỏi: “Con thích gì?”, “Con muốn gì?”, “Con có mệt không?”, mà chỉ thường xuyên phải nghe: “Con phải thế này, thế kia”.
Tôi thấy rất nhiều em không có kỳ nghỉ hè đúng nghĩa. Hè vốn là khoảng thời gian trẻ em mong chờ để nghỉ ngơi, vui chơi, khám phá, nhưng nhiều em lại tiếp tục bị cuốn vào các lớp học. Học hết lớp này đến lớp khác, từ sáng tới tối, khiến tuổi thơ bị thu hẹp lại.
Áp lực điểm số cũng rất lớn. Nhiều gia đình đặt ra những “KPI” cho con: phải 9 điểm, 10 điểm, phải đứng đầu, phải giỏi hơn bạn. Khi kỳ vọng ấy kéo dài, trẻ không chỉ mệt về thể chất mà còn căng thẳng về tinh thần. Các em có thể sống trong cảm giác nếu mình không đạt được điều người lớn mong muốn thì mình là người thất bại, là người làm cha mẹ buồn.
10h00-10h15
Độc giả Thanh Tùng (Ninh Bình) gửi câu hỏi tới bà Ninh Thị Hồng: Thưa bà Ninh Thị Hồng, thời gian gần đây liên tiếp xảy ra những vụ bạo hành trẻ em nghiêm trọng gây chấn động dư luận, trong đó nhiều vụ việc diễn ra ngay trong gia đình - nơi lẽ ra phải an toàn nhất đối với trẻ. Từ góc nhìn của một người nhiều năm gắn bó với công tác bảo vệ trẻ em, bà nhìn nhận thực trạng này như thế nào?
Bà Ninh Thị Hồng: Khi tiếp nhận những thông tin như vậy trên các phương tiện truyền thông, thực sự những người làm công tác bảo vệ quyền trẻ em nhiều năm như tôi cảm thấy rất đau lòng và day dứt. Trong bối cảnh xã hội đang ghi nhận nhiều chuyển biến tích cực trong công tác chăm sóc, bảo vệ trẻ em, đặc biệt đây cũng là thời điểm các gia đình chờ đợi kết quả học tập, sự trưởng thành của con trẻ sau một năm học, thì chỉ một vài vụ bạo hành nghiêm trọng xảy ra cũng đủ khiến dư luận bàng hoàng, phẫn nộ và cảm thấy vô cùng xót xa.
Tôi đặc biệt trăn trở với vụ việc xảy ra ngay tại Hà Nội, khi một cháu bé mới chỉ 4 tuổi đã bị bạo hành đến mức tử vong. Điều khiến tôi đau lòng hơn cả là vụ việc diễn ra không phải ở vùng sâu, vùng xa hay nơi hẻo lánh ít người qua lại, mà ngay giữa Thủ đô, tại khu nhà trọ đông đúc với rất nhiều người sinh sống xung quanh. Một đứa trẻ còn quá nhỏ, chưa có khả năng tự bảo vệ mình, vậy mà những dấu hiệu bất thường lại không được phát hiện sớm để can thiệp kịp thời. Điều đó khiến tôi đặt câu hỏi về trách nhiệm của người thân, hàng xóm và cả các cơ quan liên quan trong việc nhận diện, bảo vệ trẻ em trước nguy cơ bị bạo hành.
Tôi cũng suy nghĩ rất nhiều về vai trò của cộng đồng trong bối cảnh mạng xã hội hiện nay phát triển mạnh mẽ. Chúng ta dễ dàng lan tỏa, biểu dương những hành động đẹp, đồng thời cũng phản ứng rất nhanh trước những hành vi tiêu cực như lấn chiếm vỉa hè, chặt chém khách du lịch hay thu tiền sai quy định. Chỉ cần một clip hay một bài đăng xuất hiện trên mạng xã hội là dư luận lên tiếng, cơ quan chức năng nhanh chóng vào cuộc.
Thế nhưng, với những vụ việc liên quan đến trẻ em - đặc biệt là những đứa trẻ còn quá nhỏ, chưa thể tự lên tiếng hay tự bảo vệ mình - thì nhiều trường hợp lại bị bỏ qua trong thời gian dài. Tôi thực sự day dứt khi nghĩ rằng một sinh mạng trẻ thơ phải chịu đựng đau đớn đến vậy mà không ai phát hiện, không ai lên tiếng đủ sớm để ngăn chặn hậu quả đau lòng xảy ra.
Độc giả Mai Anh (TP.HCM) gửi câu hỏi tới TS. Đào Trung Hiếu:Thưa TS. Đào Trung Hiếu, nhiều vụ bạo hành trẻ em kéo dài trong thời gian dài nhưng không bị phát hiện, dù diễn ra ngay trong khu dân cư, trường học hoặc môi trường có nhiều người tiếp xúc với trẻ. Dưới góc nhìn tội phạm học, điều này phản ánh những “lỗ hổng” nào trong cơ chế giám sát và bảo vệ trẻ em hiện nay?
TS. Đào Trung Hiếu: Điều này cho thấy sự đứt gãy của nhiều tầng bảo vệ xung quanh trẻ em. Theo tôi, trước hết là lỗ hổng trong nhận diện khi nhiều người chỉ chú ý đến thương tích mà bỏ qua những dấu hiệu như trẻ sợ hãi, thu mình, nghỉ học bất thường hoặc suy kiệt về mặt tâm lý.
Thứ hai là, lỗ hổng trong trách nhiệm cộng đồng khi hàng xóm, người thân, giáo viên nghi ngờ nhưng ngại can thiệp vì cho rằng đó là chuyện riêng của gia đình.
Thứ ba là, sự phối hợp liên ngành chưa thực sự hiệu quả giữa gia đình, nhà trường, y tế, công an và chính quyền cơ sở. Nói cách khác, khi một đứa trẻ bị bạo hành trong thời gian dài, không chỉ người gây bạo lực có lỗi mà cả hệ thống cảnh báo sớm đã hoạt động chưa đủ nhạy và chưa đủ quyết liệt.
Điều đáng lo ngại hơn là trong nhiều trường hợp, không phải không có người nhận ra bất thường, mà là những dấu hiệu đau đớn của trẻ dần bị cộng đồng xem như chuyện riêng của gia đình. Khi sự im lặng kéo dài, bạo lực sẽ có cơ hội leo thang, trẻ tiếp tục chịu đựng nỗi đau cả thể xác và tinh thần.
Độc giả Minh Phương (TP.HCM) gửi câu hỏi tới MC Quyền Linh: Thưa MC Quyền Linh, trong hành trình nhiều năm đi tới những hoàn cảnh khó khăn và đồng hành cùng trẻ em, điều gì khiến anh day dứt nhất khi chứng kiến những đứa trẻ bị tổn thương ngay trong chính gia đình mình?
MC Quyền Linh: Tôi đi nhiều vùng sâu, vùng xa và thấy trẻ em ở những nơi ấy còn chịu rất nhiều thiệt thòi. Điều khiến tôi day dứt nhất là nhiều em chưa biết mình có những quyền gì, chưa được người lớn trong gia đình và cộng đồng tôn trọng đầy đủ các quyền cơ bản của trẻ em.
Ở một số nơi, vẫn còn những hành vi bạo lực tinh thần diễn ra âm thầm trong gia đình. Có những người cha bắt con phải đi mua rượu, bắt con làm theo ý mình, áp đặt con bằng lời nói, thái độ, thậm chí bằng sự kiểm soát mà chính họ cũng không nhận ra đó là tổn thương. Những điều ấy có thể không để lại vết thương trên thân thể, nhưng lại làm đứa trẻ sợ hãi, thu mình và mất đi cảm giác được an toàn trong chính ngôi nhà của mình.
Vì vậy, tôi nghĩ điều rất quan trọng là phải truyền thông nhiều hơn nữa về quyền trẻ em, nhất là ở vùng sâu, vùng xa. Không chỉ trẻ em cần biết quyền của mình, mà người lớn cũng phải hiểu: trẻ em có quyền được yêu thương, được bảo vệ, được lắng nghe và được lớn lên trong môi trường an toàn.
Điều tôi sợ nhất là có những đứa trẻ lớn lên mà lúc nào cũng nghĩ mình không đủ tốt. Các em bị la mắng, bị phủ nhận cảm xúc quá nhiều đến mức dần không còn dám nói thật lòng mình nữa. Có em rất ngoan, rất im lặng, nhưng càng im lặng tôi càng lo, vì nhiều khi bên trong các em là sự cô đơn và tổn thương kéo dài.
Tôi nghĩ vết thương tinh thần ở trẻ em nguy hiểm ở chỗ nó không nhìn thấy ngay. Một cái tát có thể hết đau sau vài ngày, nhưng cảm giác bị xem thường, bị so sánh, bị làm cho sợ hãi có khi đi theo đứa trẻ suốt nhiều năm, ảnh hưởng đến cách các em yêu thương bản thân, xây dựng gia đình hay tin tưởng người khác khi trưởng thành.