Phòng, chống đuối nước trẻ em: Chung tay xây dựng môi trường an toàn cho trẻ
Gia đình là "lá chắn" đầu tiên bảo vệ trẻ khỏi đuối nước
Sau một năm học, nhiều trẻ được cha mẹ cho về quê, đi du lịch, bơi lội và tham gia các hoạt động ngoài trời để vui chơi, vận động. Tuy nhiên, các chuyên gia cảnh báo việc để trẻ được tự do khám phá không đồng nghĩa với buông lỏng giám sát, cha mẹ cần chủ động hơn để bảo vệ trẻ khỏi đuối nước.
LTS: Đuối nước vẫn là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây tử vong do tai nạn, thương tích ở trẻ em tại Việt Nam, đặc biệt trong dịp nghỉ hè. Mặc dù Chính phủ cùng các bộ, ngành, địa phương đã triển khai nhiều chương trình, chính sách nhằm phòng, chống đuối nước, song thực tế vẫn còn không ít khoảng trống về giáo dục kỹ năng an toàn trong môi trường nước, đầu tư cơ sở vật chất, cũng như sự giám sát của gia đình và cộng đồng.
Với mong muốn góp phần nâng cao nhận thức và thúc đẩy các giải pháp bảo vệ trẻ em, Tạp chí Trẻ em Việt Nam thực hiện chuyên đề "Phòng, chống đuối nước trẻ em: Chung tay xây dựng môi trường an toàn cho trẻ". Chuyên đề sẽ phân tích thực trạng, chỉ ra những "điểm nghẽn" trong công tác phòng ngừa, đồng thời ghi nhận ý kiến của các cơ quan quản lý, chuyên gia và những mô hình, sáng kiến hiệu quả nhằm chung tay xây dựng môi trường an toàn, giúp trẻ em được phát triển khỏe mạnh và giảm thiểu nguy cơ đuối nước.
Bài 1: Đuối nước hè: Vì sao phổ cập bơi học đường vẫn là bài toán khó?
Bài 2: Gia đình là "lá chắn" đầu tiên bảo vệ trẻ khỏi đuối nước
***
Một phút lơ là, hậu quả không thể bù đắp
Bảo vệ trẻ em khỏi tai nạn đuối nước không chỉ là nhiệm vụ trước mắt mà còn là trách nhiệm lâu dài đối với tương lai đất nước. Mỗi trẻ em được sống an toàn, khỏe mạnh là nền tảng cho sự phát triển bền vững của xã hội.
Mỗi mùa hè, tiếng cười trẻ thơ lại rộn ràng tại các khu dân cư, dòng sông, ao hồ, bãi biển và hồ bơi. Sau một năm học tập căng thẳng, nhiều phụ huynh thường cho con đi du lịch, bơi lội, về quê hoặc tham gia các hoạt động ngoài trời với mong muốn giúp trẻ nghỉ ngơi, rời xa thiết bị điện tử và có thêm thời gian vui chơi, vận động. Tuy nhiên, việc để trẻ được vui chơi tự do không đồng nghĩa với việc thiếu sự giám sát của người lớn. Bởi phía sau những ngày hè sôi động ấy vẫn tiềm ẩn nguy cơ tai nạn thương tích, đặc biệt là đuối nước ở trẻ em.
Thực tế gần đây cho thấy, nhiều vụ tai nạn đuối nước xảy ra với trẻ em sống gần sông, suối, ao, hồ, công trình chứa nước hoặc khi trẻ tự ý đi tắm sông, tắm biển, vui chơi tại những khu vực vốn quen thuộc. Trong không ít trường hợp, trẻ không được người lớn giám sát trực tiếp hoặc cha mẹ chưa nhận diện đầy đủ những nguy cơ tiềm ẩn trong môi trường nước.
Trong công tác phòng, chống đuối nước trẻ em, truyền thông và giáo dục nâng cao nhận thức giữ vai trò đặc biệt quan trọng. Mỗi gia đình cần nhận thức rõ việc bảo vệ trẻ trước nguy cơ tai nạn, thương tích là trách nhiệm trực tiếp và thường xuyên của cha mẹ, người chăm sóc trẻ. Tuy nhiên, không ít phụ huynh vẫn chủ quan, cho rằng trẻ đã lớn, biết bơi hoặc khu vực xung quanh vốn quen thuộc nên không thể xảy ra nguy hiểm. Thực tế, tai nạn đuối nước có thể xảy ra bất cứ lúc nào, ngay cả ở nơi nước cạn hoặc chỉ trong vài phút mất cảnh giác.
Ông Đặng Hoài Nam, Phó Chủ tịch Hội Bảo vệ quyền trẻ em Việt Nam, nguyên Cục trưởng Cục Trẻ em (Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội), cho rằng cha mẹ và con cái cần được trang bị thêm kiến thức, kỹ năng phòng, chống đuối nước ngay trong gia đình, cộng đồng nơi sinh sống cũng như trong các chuyến du lịch, vui chơi vào mùa hè.
Theo ông Nam, hơn ai hết, cha mẹ và ông bà là những người thầy, người hướng dẫn và bảo vệ trẻ trước nguy cơ đuối nước. “Sinh mạng trẻ em sẽ được cứu khỏi nguy cơ đuối nước nếu mỗi gia đình biết giám sát, cảnh giới trẻ, biết sắp đặt ngôi nhà an toàn, thân thiện và không có các nguy cơ gây tai nạn thương tích, đặc biệt là nguy cơ đuối nước”, ông nói.
Phó Chủ tịch Hội Bảo vệ quyền trẻ em Việt Nam cho rằng mỗi đứa trẻ sẽ an toàn hơn nếu được cha mẹ đưa đến các lớp học bơi, học kỹ năng an toàn phòng, chống đuối nước hoặc cha mẹ trở thành người thầy, người bạn cùng học và trải nghiệm các kiến thức, kỹ năng an toàn với con. “Đuối nước, đặc biệt ở trẻ em, sẽ bị đẩy lùi nếu mỗi chúng ta có kiến thức, kỹ năng và phản xạ an toàn trước các nguy cơ”, ông Nam nêu quan điểm.
Theo bà Đoàn Thu Huyền, Đại diện tại Việt Nam của Tổ chức Campaign For Tobacco-Free Kids (Chương trình Vận động Chính sách Y tế toàn cầu), đuối nước hoàn toàn có thể phòng tránh nếu mỗi gia đình và cá nhân có sự quan tâm, hành động thiết thực. “Hơn ai hết, bên cạnh thầy cô giáo thì bố mẹ, người thân của trẻ cũng cần tăng cường giám sát trẻ em, tạo điều kiện để các con được học bơi an toàn và học các kỹ năng an toàn trong môi trường nước”, bà Huyền nói.
“Ảo tưởng an toàn” khiến cha mẹ lơi lỏng giám sát trẻ
Trao đổi với PV Tạp chí Trẻ em Việt Nam, Thạc sĩ tâm lý học Lê Phương Thúy (nghiên cứu sinh ngành Đo lường và Đánh giá trong giáo dục) cho rằng số vụ đuối nước trẻ em thường gia tăng vào mùa hè khi trẻ có nhiều thời gian rảnh, trong khi cha mẹ vẫn phải đi làm nên việc giám sát không liên tục. Trẻ dễ tụ tập bạn bè, tìm đến ao, hồ, sông, suối để vui chơi, giải nhiệt nhưng chưa nhận thức đầy đủ về nguy hiểm.
Theo chuyên gia, trẻ tiểu học và THCS có tâm lý thích khám phá, dễ bị ảnh hưởng bởi bạn bè nhưng khả năng đánh giá rủi ro còn hạn chế. Tâm lý “mọi người chơi được thì mình cũng chơi được” có thể khiến trẻ đưa ra quyết định nguy hiểm chỉ vì hiếu kỳ hoặc bị bạn bè rủ rê.
Một nguyên nhân khác là “ảo tưởng về sự an toàn”. Nhiều phụ huynh cho rằng con biết bơi sẽ không bị đuối nước hoặc chơi gần nhà thì an toàn. Tuy nhiên, trẻ vẫn có thể gặp sự cố do chuột rút, kiệt sức, hoảng loạn hay rơi vào vùng nước xoáy. Nhiều tai nạn xảy ra tại những nơi quen thuộc như ao sau nhà, mương, hồ trong khu dân cư hoặc bể chứa nước.
Đồng quan điểm, ThS. Nguyễn Hương Giang, chuyên gia tâm lý, nghiên cứu sinh Tâm lý học lâm sàng trẻ em và vị thành niên, cho rằng nguy cơ đuối nước xuất phát từ nhiều yếu tố đan xen.
Thứ nhất, khi nghỉ hè, trẻ mất đi thời gian biểu cố định của trường lớp, trong khi cha mẹ vẫn đi làm, tạo ra những khoảng trống giám sát – trẻ có nhiều thời gian rảnh nhưng lại thiếu người lớn ở bên. Thứ hai, ở góc độ tâm lý phát triển, trẻ thích khám phá, thể hiện bản thân và dễ bị cuốn theo nhóm bạn, trong khi khả năng kiểm soát xung động, đánh giá rủi ro (thuỳ trán trước) chưa phát triển hoàn thiện. Thứ ba, nhiều phụ huynh có xu hướng tin rằng những điều xấu thường xảy ra với người khác, chứ khó xảy đến với gia đình mình. Áp lực công việc và nhịp sống bận rộn khiến cha mẹ vô thức đánh giá thấp nguy cơ, qua đó giảm cảm giác lo lắng hoặc áy náy khi không thể giám sát con mọi lúc.
Theo chuyên gia, quan niệm “trẻ biết bơi” hoặc “đã lớn” cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro. Biết bơi trong hồ có đáy bằng phẳng, nước tĩnh khác hoàn toàn với việc ứng phó ở sông, suối có dòng chảy, vùng nước xoáy hay khi trẻ bị chuột rút, kiệt sức. Tương tự, việc cho rằng trẻ đã đủ lớn hoặc chỉ chơi gần nhà thường phản ánh sự đánh giá quá cao khả năng nhận thức và tự kiểm soát của trẻ so với thực tế lứa tuổi.
“Những niềm tin này có thể khiến người lớn lơi lỏng giám sát đúng vào những thời điểm trẻ cần được quan tâm nhất”, chị Giang nhận định.
Giám sát trẻ cần một người lớn đủ năng lực
Theo ThS. Phương Thúy, giám sát trẻ không đơn thuần là biết trẻ đang ở đâu, mà người lớn cần nắm được trẻ đang làm gì, ở cùng ai, môi trường xung quanh tiềm ẩn nguy cơ nào và có thể can thiệp ngay khi cần.
Cha mẹ không thể ở bên con 24/24 giờ vì công việc và những áp lực trong cuộc sống. Do đó, vào dịp hè, nhiều gia đình thường gửi trẻ về quê ở với ông bà hoặc giao cho anh chị lớn trông nom. Tuy nhiên, theo chuyên gia, việc có một người lớn hiện diện, đủ khả năng quan sát và xử lý tình huống là yếu tố đặc biệt quan trọng trong phòng, chống đuối nước.
“Giao trẻ cho anh chị lớn hơn hoặc để các em tự chơi theo nhóm không thể thay thế hoàn toàn vai trò giám sát của người lớn. Khi xảy ra sự cố, trẻ thường hoảng sợ, thiếu kỹ năng xử lý, thậm chí có thể cùng gặp nạn khi cố cứu bạn”, chuyên gia nói.
Còn theo ThS. Nguyễn Hương Giang, giám sát cần được hiểu là sự hiện diện chủ động, trong tầm quan sát và có khả năng phản ứng kịp thời. Với trẻ nhỏ, người lớn cần giám sát trong tầm tay; trẻ lớn hơn vẫn cần một người có đủ năng lực ứng phó ở gần, thay vì chỉ “có mặt” mang tính hình thức.
Theo chuyên gia, việc giao trẻ cho ông bà hay anh chị lớn cũng cần được đánh giá dựa trên năng lực thực tế của người trông trẻ, như sức khỏe, khả năng bơi cứu hộ và phản xạ xử lý tình huống khẩn cấp.
“Đông trẻ không đồng nghĩa với an toàn hơn”, chuyên gia nói, cho rằng nhiều phụ huynh có thể rơi vào “khuếch tán trách nhiệm” khi để trẻ chơi theo nhóm. Mỗi trẻ có thể ngầm nghĩ rằng “đã có bạn khác để ý”, dẫn đến không ai thực sự giám sát ai. Khi sự cố xảy ra, phản ứng cấp cứu vì thế dễ bị chậm trễ. Do đó, theo chuyên gia, dù là ông bà, anh chị lớn hay nhóm bạn, không hình thức nào có thể thay thế hoàn toàn sự giám sát trực tiếp của một người lớn đủ năng lực.
Cùng tạo “mạng lưới” bảo vệ trẻ em
Theo ThS. Phương Thúy, bảo vệ trẻ trước nguy cơ đuối nước không thể là trách nhiệm của riêng gia đình, nhà trường hay chính quyền địa phương, mà cần sự phối hợp của cả ba bên như một mạng lưới bảo vệ trẻ.
Gia đình cần chủ động nắm lịch sinh hoạt của con, biết trẻ đi đâu, chơi với ai và thống nhất những quy tắc an toàn trong dịp hè. Nhà trường có thể trang bị kiến thức, kỹ năng phòng, chống đuối nước và xử lý tình huống cho học sinh trước khi các em nghỉ hè. Trong khi đó, chính quyền địa phương cần rà soát các khu vực có nguy cơ cao, lắp đặt biển cảnh báo, dựng rào chắn tại những nơi cần thiết, đồng thời tạo thêm sân chơi, bể bơi an toàn để trẻ có không gian vui chơi phù hợp. Khi mỗi bên chủ động thực hiện tốt vai trò của mình, nguy cơ tai nạn sẽ được giảm đáng kể.
Theo chuyên gia, giáo dục trẻ về phòng, chống đuối nước không nên bắt đầu bằng việc dọa nạt. Những câu nói như "ra hồ sẽ chết đuối" hay việc cho trẻ xem quá nhiều hình ảnh ám ảnh có thể khiến các em sợ hãi nhất thời nhưng chưa chắc hình thành được kỹ năng tự bảo vệ. Thay vào đó, cha mẹ nên đặt trẻ vào những tình huống gần gũi, cụ thể như: "Nếu con thấy bạn rủ ra sông tắm, con sẽ làm gì?" hoặc "Nếu quả bóng rơi xuống hồ, con nên xử lý thế nào?". Những cuộc trò chuyện này giúp trẻ tập suy nghĩ, nhận diện nguy cơ và chủ động đưa ra lựa chọn an toàn.
Bên cạnh đó, cha mẹ cần làm gương cho con. Việc người lớn tuân thủ các quy tắc an toàn khi ở gần sông, hồ, mặc áo phao khi đi thuyền và không chủ quan với nước sẽ giúp trẻ hình thành hành vi an toàn một cách tự nhiên.
"Cuối cùng, nếu có điều kiện, cha mẹ nên cho trẻ học bơi và kỹ năng an toàn dưới nước tại các cơ sở uy tín. Tuy nhiên, cần nhấn mạnh với trẻ rằng biết bơi không đồng nghĩa với được phép chủ quan. Quan trọng hơn, trẻ phải biết nhận diện nguy cơ, nói 'không' với những tình huống không an toàn và tìm kiếm sự hỗ trợ của người lớn khi cần. Đây mới là nền tảng giúp trẻ tự bảo vệ mình lâu dài", ThS. Phương Thúy nói.
Theo ThS. Nguyễn Hương Giang, công tác phòng, chống đuối nước cần được triển khai như một chuỗi liên kết ba bên. Trước khi học sinh nghỉ hè, nhà trường có thể tổ chức các buổi trang bị kỹ năng an toàn dưới nước, hướng dẫn nhận diện khu vực nguy hiểm và gửi khuyến cáo cụ thể tới phụ huynh. Về phía chính quyền địa phương, cần tổ chức các lớp dạy bơi an toàn cộng đồng và các điểm sinh hoạt hè có người phụ trách như nhà văn hóa, câu lạc bộ, đội nhóm thể thao. Những hoạt động có tổ chức, có giám sát sẽ góp phần "lấp đầy" thời gian rảnh của trẻ trong dịp hè.
Với gia đình, vai trò chủ động nhất là xây dựng một lịch sinh hoạt hè có cấu trúc cho con, ưu tiên các hoạt động có người quản lý thay vì để trẻ hoàn toàn tự do. Cha mẹ cũng cần chủ động kết nối với tổ dân phố, các ban, ngành địa phương để nắm được những điểm nước nguy hiểm gần nơi sinh sống.
ThS. Nguyễn Hương Giang cho rằng cha mẹ không nên dùng hình ảnh đe dọa hoặc kể chi tiết những câu chuyện thương tâm để "dọa" trẻ. Cách làm này dễ khiến trẻ ám ảnh, lo âu quá mức nhưng không tạo ra kỹ năng thực sự. Hiệu quả hơn là giáo dục thông qua thực hành cụ thể: cho trẻ học bơi bài bản, nhận diện vùng nước nguy hiểm và ghi nhớ nguyên tắc khi thấy bạn gặp nạn là gọi người lớn, không tự ý nhảy xuống cứu.
"Về góc độ tâm lý, cần trao quyền cho trẻ, giúp các em cảm thấy mình có khả năng tự bảo vệ bản thân thay vì chỉ gieo cảm giác sợ hãi và bất lực", chuyên gia nói. Cha mẹ có thể đặt những câu hỏi mở như: "Nếu con thấy dòng nước chảy xoáy, con sẽ làm gì?" để trẻ tự suy nghĩ và ghi nhớ chủ động, thay vì chỉ tiếp nhận những lời dặn dò một chiều.
Theo chuyên gia, thói quen an toàn được hình thành bền vững nhất thông qua sự lặp lại nhất quán và tấm gương của cha mẹ. Việc luôn xin phép trước khi ra ao, hồ, sông, suối và chỉ vui chơi khi có người lớn đi cùng cần trở thành những nguyên tắc quen thuộc trong gia đình. "Hành vi an toàn của cha mẹ khi ở gần nước chính là bài học trực quan mạnh mẽ nhất đối với trẻ", ThS. Nguyễn Hương Giang nhận định.
Như vậy, bảo vệ trẻ khỏi nguy cơ đuối nước không thể chỉ trông chờ vào việc trẻ biết bơi hay đã được học một vài kỹ năng cơ bản. Gia đình, nhà trường và cộng đồng cần cùng xây dựng môi trường an toàn, trong đó sự giám sát chủ động của người lớn giữ vai trò đặc biệt quan trọng. Tuy nhiên, ngay cả khi đã có người giám sát và trẻ được học bơi, nguy cơ vẫn chưa thể được loại bỏ hoàn toàn.
Bởi, biết bơi không đồng nghĩa với an toàn trong mọi môi trường nước. Một đứa trẻ có thể bơi được trong bể bơi nhưng vẫn lúng túng, hoảng loạn khi rơi xuống sông, hồ có dòng chảy hoặc vùng nước xoáy. Khả năng nổi, đứng nước, tự cứu và xử lý tình huống khi gặp sự cố mới là những kỹ năng quyết định khả năng tự bảo vệ của trẻ dưới nước.
Vậy cần hiểu thế nào là “biết bơi an toàn”? Trẻ cần được trang bị những kỹ năng nào và làm thế nào để duy trì, rèn luyện các kỹ năng này thường xuyên? Đây là nội dung được phân tích trong bài viết tiếp theo của chuyên đề: Bài 3: Biết bơi chưa đủ để phòng tránh đuối nước.










