06:15 13/07/2026

Bảo vệ trẻ em trước thách thức từ mạng xã hội và trí tuệ nhân tạo

Trẻ em đang được bảo vệ đến đâu trên không gian mạng?

Icon No Avatar Tre Em Viet Nam Phương Dinh

Chỉ với một chiếc điện thoại thông minh, trẻ em hôm nay có thể học tập, kết nối và khám phá cả thế giới. Nhưng cũng chỉ qua vài cú chạm màn hình, các em có thể trở thành nạn nhân của bắt nạt trực tuyến, lừa đảo, nội dung độc hại hay những thuật toán liên tục đẩy đến các thông tin không phù hợp.

LTS: Sự phát triển mạnh mẽ của mạng xã hội và trí tuệ nhân tạo (AI) đang mở ra nhiều cơ hội học tập, sáng tạo và kết nối cho trẻ em. Tuy nhiên, cùng với những lợi ích đó là không ít nguy cơ khi trẻ ngày càng tiếp cận môi trường số từ sớm, trong khi kỹ năng tự bảo vệ còn hạn chế và các cơ chế bảo vệ vẫn chưa theo kịp tốc độ phát triển của công nghệ.

Đề xuất nghiên cứu kiểm soát độ tuổi trẻ em sử dụng mạng xã hội và AI của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Hoàng Minh Sơn mới đây đã thu hút sự quan tâm của dư luận, đồng thời đặt ra nhiều câu hỏi về trách nhiệm của gia đình, nhà trường, doanh nghiệp công nghệ và cơ quan quản lý trong việc bảo đảm môi trường số an toàn cho trẻ em. Vấn đề không chỉ nằm ở việc trẻ được phép sử dụng công nghệ từ độ tuổi nào, mà còn là làm thế nào để các em được bảo vệ trước những tác động ngày càng tinh vi của thuật toán, trí tuệ nhân tạo và các nội dung độc hại trên không gian mạng.

Trên cơ sở đó, Tạp chí Trẻ em Việt Nam đăng tải chuyên đề "Bảo vệ trẻ em trước thách thức từ mạng xã hội và trí tuệ nhân tạo", phân tích thực trạng trẻ em tiếp cận môi trường số; những tác động của thuật toán và AI đối với nhận thức, hành vi của trẻ; kinh nghiệm bảo vệ trẻ em trên không gian mạng của nhiều quốc gia; những khoảng trống trong chính sách và thực tiễn tại Việt Nam; đồng thời đề xuất các giải pháp nhằm xây dựng “lá chắn số” toàn diện, giúp trẻ phát triển an toàn, lành mạnh trong kỷ nguyên số.

Trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc!

Bài 3: Trẻ em đang được bảo vệ đến đâu trên không gian mạng?

*****

Việt Nam đã ban hành nhiều quy định nhằm bảo vệ trẻ em trên môi trường số, từ Luật Trẻ em, Luật An ninh mạng đến các chương trình quốc gia về bảo vệ trẻ em trên không gian mạng. Tuy nhiên, sự phát triển quá nhanh của mạng xã hội và trí tuệ nhân tạo (AI) đang khiến nhiều cơ chế bảo vệ bộc lộ những khoảng trống. Khi gia đình chưa đủ kỹ năng đồng hành, nhà trường còn thiếu công cụ giáo dục công dân số, doanh nghiệp công nghệ vẫn ưu tiên tối đa hóa tương tác và chính sách chưa theo kịp công nghệ, “lá chắn” bảo vệ trẻ em vẫn còn nhiều lỗ hổng cần được lấp đầy. 

Khi “lá chắn” bảo vệ trẻ em còn nhiều lỗ hổng 

Trong bối cảnh Internet là một phần tất yếu của cuộc sống, gia đình là “tuyến phóng vệ” đầu tiên lại đang tỏ ra yếu thế. Theo số liệu từ Cục Trẻ em, có tới 89% trẻ từ 5 - 14 tuổi sử dụng Internet, với 57% dành từ 5-7 giờ mỗi ngày trực tuyến. Tuy nhiên, chỉ 36% trẻ từ 15-17 tuổi từng được hướng dẫn về an toàn trên không gian mạng.

Đối mặt với guồng quay hối hả của cuộc sống hiện đại, đặc biệt vào dịp nghỉ hè khi các con không phải tới trường, nhiều bậc phụ huynh đã biến điện thoại, máy tính bảng trở thành “người giữ trẻ” mẫn cán. 

“Gia đình tôi có hai con, một bé 15 tuổi và một bé 9 tuổi. Vào dịp hè, do cả hai vợ chồng đều đi làm cả ngày nên thường để hai chị em ở nhà tự trông nhau. Nếu không có điện thoại hoặc TV để giải trí, các con thường muốn ra ngoài chơi, trong khi tôi luôn lo lắng về những rủi ro như đuối nước, tai nạn hay nguy cơ từ người lạ. Vì vậy, tôi chọn để các con ở trong nhà, sử dụng thiết bị điện tử ở mức nhất định và theo dõi qua camera. Ít nhất như vậy, vợ chồng tôi cũng cảm thấy yên tâm hơn khi biết các con đang ở đâu và làm gì.” Chị Đỗ Thị Dung - Phụ huynh sinh sống tại Ninh Bình chia sẻ.

pexels-tri-u-thanh-tam-354422752-14255716
Khi phụ huynh bận rộn các thiết bị thông minh đã trở thành “bạn” của con (nguồn ảnh: pexels)

Suy nghĩ giữ con ở nhà để tránh những rủi ro ngoài xã hội là tâm lý khá phổ biến của nhiều bậc phụ huynh hiện nay. Tuy nhiên, trong khi những hiểm nguy hữu hình ngoài đời thực thường dễ nhận diện, không ít cha mẹ lại chưa nhận thức đầy đủ về các nguy cơ tiềm ẩn trên không gian mạng. 

Việc trẻ dành nhiều giờ mỗi ngày với điện thoại, máy tính bảng hay mạng xã hội mà thiếu sự đồng hành, hướng dẫn của người lớn có thể khiến các em đối mặt với những rủi ro không kém phần phức tạp. Unicef từng cảnh báo, khi thiếu giám sát, trẻ dễ dàng trở thành nạn nhân của tin giả, bạo lực mạng hay kẻ xấu tiếp cận. 

“Em từng bị một nhóm bạn lập nhóm chat trên Facebook để nói xấu và ghép ảnh chế giễu. Em rất sợ nhưng kể với bố mẹ thì bố mẹ bảo: ‘ Không dùng điện thoại là không có chuyện’.” - Em Mai Bảo Hân - Học sinh lớp 7  tâm sự.

Câu trả lời tưởng chừng đơn giản ấy phần nào phản ánh khoảng cách về nhận thức và kỹ năng số giữa cha mẹ và con cái hiện nay. Khi nhiều phụ huynh chưa thực sự hiểu cách thức vận hành của môi trường mạng cũng như những rủi ro mà trẻ có thể gặp phải, giải pháp thường chỉ dừng lại ở việc hạn chế hoặc cấm sử dụng thiết bị, thay vì đồng hành và hỗ trợ con xử lý vấn đề. Điều này dẫn đến, trẻ em không chỉ thiếu kỹ năng tự bảo vệ mình mà còn thiếu một điểm tựa đáng tin cậy để tìm kiếm sự giúp đỡ khi gặp sự cố trực tuyến. 

Nếu gia đình “tuyến phòng vệ” đầu tiên thì các nền tảng công nghệ lại giữ vai trò “người gác cổng” của môi trường số. Tuy nhiên, chính mô hình kinh doanh dựa trên tối đa hóa thời gian sử dụng và mức độ tương tác đang khiến nhiều nền tảng rơi vào thế xung đột giữa lợi ích kinh doanh và trách nhiệm bảo vệ trẻ em. 

Dù các nền tảng liên tục ra mắt các tính năng kiểm soát phụ huynh, chế độ thanh thiếu niên… nhưng hầu hết đều không đạt hiệu quả. Đặc biệt ngay cả khi, Nghị định số 147/2024/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 25/12/2024, quy định người dưới 16 tuổi sẽ không được phép tự đăng ký tài khoản mạng xã hội nhưng nếu chỉ cần dạo một vòng nền tảng TikTok sẽ không khó để bắt gặp hàng loạt tài khoản do trẻ em dưới 16 tuổi lập ra. 

2
Hàng loạt tài khoản TikTok có người dùng dưới 16 tuổi tồn tại trên nền tảng này

Khoảng trống lớn nhất đến từ chính bản chất mô hình kinh doanh của các nền tảng này: Thuật toán ưu tiên sự tương tác. Để giữ chân người dùng lâu nhất có thể, thuật toán sẵn sàng đề xuất những nội dung giật gân, độc hại, bất chấp việc nó có thể gây tổn thương tâm lý cho trẻ nhỏ. 

Theo báo cáo của Harvard School of Public Health, vấn đề cốt lõi trong nhiều vụ kiện nhằm vào các nền tảng mạng xã hội không chỉ nằm ở nội dung do người dùng đăng tải, mà ở chính cách nền tảng được thiết kế để khuếch đại và phân phối nội dung thông qua các thuật toán tối ưu hóa mức độ tương tác.

Hơn nữa, sự trỗi dậy của AI tạo sinh (Generative AI) càng làm trầm trọng thêm vấn đề. Từ giả mạo giọng nói, lừa đảo đến tạo hình ảnh deepfake bóc lột tình dục trẻ em... AI đang bị lợi dụng để tạo ra những rủi ro ở quy mô và tốc độ mà các cơ chế kiểm duyệt hiện tại không kịp trở tay. 

Khoảng trống trong giáo dục AI tại trường học 

AI không chỉ đặt ra những thách thức trên không gian mạng. Với tốc độ phát triển nhanh chóng, công nghệ này cũng đang tạo ra một cuộc dịch chuyển sâu sắc ngay trong lớp học. Chỉ với vài câu lệnh, học sinh có thể yêu cầu AI giải một bài toán, viết một bài văn, tóm tắt tài liệu hay giải thích những khái niệm phức tạp trong vài giây. 

Nhìn nhận về mặt tích, AI đang mở ra nhiều cơ hội cho học sinh. UNESCO cũng nhận định rằng, AI có thể góp phần cá nhân hóa việc học, hỗ trợ giáo viên thiết kế bài giảng, giúp học sinh tiếp cận tri thức theo tốc độ và nhu cầu riêng của mình. 

Tuy nhiên, đằng sau sự hào nhoáng đó lại ẩn chứa hàng loạt những thách thức đối với giáo dục. Từ nguy cơ phụ thuộc vào AI, suy giảm tư duy phản biện đến các vấn đề về quyền riêng tư và an toàn dữ liệu của học sinh.

pexels-chipi1189-36859104
AI đang thay đổi cách học, đặt ra yêu cầu đổi mới vai trò của nhà trường trong giáo dục kỹ năng số (nguồn ảnh: pexels)

Theo UNESCO, sự phát triển của AI đang diễn ra nhanh hơn tốc độ hoàn thiện chính sách giáo dục. Trong hướng dẫn đầu tiên trên thế giới về AI tạo sinh trong giáo dục, tổ chức này cho rằng phần lớn các quốc gia vẫn chưa có quy định đầy đủ về việc sử dụng AI trong trường học, khiến dữ liệu người học chưa được bảo vệ và nhiều cơ sở giáo dục chưa sẵn sàng để kiểm soát, đánh giá hay hướng dẫn học sinh sử dụng AI đúng cách.

UNESCO đồng thời khuyến nghị các chính phủ sớm ban hành quy định về bảo vệ dữ liệu, đào tạo giáo viên và xem xét giới hạn độ tuổi sử dụng độc lập đối với các nền tảng AI tạo sinh. Những cảnh báo này cũng phản ánh thách thức mà giáo dục Việt Nam đang đối mặt khi AI ngày càng hiện diện trong học tập, trong khi việc trang bị kỹ năng số và kỹ năng sử dụng AI cho học sinh vẫn chưa được triển khai một cách bài bản. 

“AI đang xuất hiện ngày càng nhiều trong học tập của học sinh, nhưng việc giáo dục kỹ năng sử dụng AI trong nhà trường vẫn còn khá rời rạc. Khi đi dạy học, tôi cũng chỉ yếu lồng ghép các kiến thức về AI cũng nhưng mạng xã hội trong các buổi sinh hoạt hoặc chuyên đề, chứ chưa có chương trình chính khóa, giáo trình hay hướng dẫn thống nhất. Điều đó khiến mỗi nơi triển khai một cách khác nhau và phụ thuộc nhiều vào kinh nghiệm của từng giáo viên”,  cô Nguyễn Thị Kim Phượng - Giáo viên Trường Tiểu học Hải Vân tỉnh Ninh Bình chia sẻ.

Trong bối cảnh đó, việc Unicef và Bộ Giáo dục và Đào tạo phối hợp xây dựng Khung năng lực quốc gia về Kỹ năng số và AI cho khoảng 23 triệu học sinh được xem là bước đi quan trọng. Tuy nhiên, từ một bộ khung chính sách đến việc giáo viên được đào tạo, học sinh được trang bị kỹ năng sử dụng AI an toàn và các trường học có quy định rõ ràng vẫn là khoảng cách cần sớm được lấp đầy.

Khi chính sách vẫn chạy sau công nghệ

Những khoảng trống ở gia đình, nhà trường hay doanh nghiệp công nghệ đều cho thấy một điểm chung: tốc độ phát triển của công nghệ đang nhanh hơn khả năng thích ứng của chính sách. Dù Việt Nam đã từng bước hoàn thiện hành lang pháp lý với Luật Trẻ em, Luật An ninh mạng, Nghị định số 147/2024/NĐ-CP và các quy định về bảo vệ dữ liệu cá nhân, khoảng cách giữa quy định trên giấy và thực tiễn vẫn ngày càng bộc lộ rõ khi mạng xã hội, AI và các nền tảng xuyên biên giới liên tục tạo ra những dạng rủi ro mới.

pexels-soc-nang-d-ng-2150345854-32658797
Bảo vệ trẻ em trên không gian mạng đòi hỏi chính sách không chỉ đầy đủ mà còn phải theo kịp thực tiễn (nguồn ảnh: pexels)

Khoảng trống dễ nhìn thấy nhất hiện nay là cơ chế xác minh độ tuổi. Dù nhiều nền tảng quy định người dùng phải đủ một độ tuổi nhất định mới được tạo tài khoản, việc xác minh gần như chỉ dựa vào thông tin do chính người dùng tự khai báo. Chỉ cần thay đổi năm sinh, một đứa trẻ 10 tuổi vẫn có thể bước vào không gian mạng như một người trưởng thành. Khi đó, mọi lớp bảo vệ dựa trên độ tuổi gần như mất tác dụng.

Đăng tải trên báo Tuổi Trẻ ngày 6/7/2026, bài viết "Không thể giao trẻ em cho mạng xã hội: Muốn trẻ an toàn, cần sự chung tay của nhiều phía" dẫn ý kiến của Tiến sĩ giáo dục Nguyễn Thị Thu Huyền - Nguyên Hiệu trưởng Trường Song ngữ Quốc tế Canada (BCIS) cho rằng đề xuất cấm trẻ từ 16 tuổi trở xuống sử dụng mạng xã hội cần được thảo luận nghiêm túc. Tuy nhiên, điều quan trọng không chỉ là cấm hay không cấm, mà là xây dựng các giải pháp giúp trẻ được chuẩn bị đầy đủ kiến thức, kỹ năng để tham gia môi trường số một cách an toàn và có trách nhiệm. Theo bà, nhiều quốc gia đã áp dụng quy định giới hạn độ tuổi sử dụng mạng xã hội nhằm bảo vệ nhóm người dùng còn hạn chế về khả năng tự kiểm soát và đánh giá rủi ro trên môi trường mạng.

Không chỉ đối mặt với bài toán xác minh độ tuổi, hệ thống quản lý hiện nay còn đứng trước thách thức khi các công nghệ mới liên tục xuất hiện. AI tạo sinh, deepfake hay các thuật toán đề xuất nội dung đang tạo ra những dạng rủi ro mà nhiều quy định hiện hành chưa dự liệu đầy đủ. Một nội dung độc hại, một thử thách nguy hiểm hay một hình ảnh deepfake bóc lột tình dục trẻ em có thể lan truyền tới hàng triệu người chỉ trong thời gian ngắn, trong khi cơ chế quản lý vẫn chủ yếu phản ứng sau khi vi phạm đã xảy ra. Điều đó đồng nghĩa với việc nhiều biện pháp pháp lý chỉ được kích hoạt khi trẻ em đã trở thành nạn nhân.

Bên cạnh đó, khoảng trống chính sách còn nằm ở việc đã xác định rõ trách nhiệm của gia đình và nhà trường nhưng chưa cung cấp đầy đủ công cụ để họ thực hiện. Trong khi cha mẹ và giáo viên được kỳ vọng đồng hành cùng trẻ trên môi trường số, họ vẫn thiếu các phần mềm hỗ trợ hiệu quả, thiếu tài liệu hướng dẫn chuẩn về an toàn số và AI, cũng như thiếu mạng lưới hỗ trợ tâm lý, pháp lý khi trẻ gặp sự cố trực tuyến. Điều này khiến gánh nặng bảo vệ trẻ chủ yếu đặt lên vai những người cũng đang nỗ lực thích ứng với sự phát triển nhanh chóng của công nghệ.

Chia sẻ trên Tạp chí Trẻ em Việt Nam trong bài viết "Trẻ em Việt Nam trên không gian mạng: Mừng hay lo" đăng ngày 5/2/2026, ông Đặng Hoa Nam, Phó Chủ tịch Hội Bảo vệ quyền trẻ em Việt Nam cho rằng Nhà nước, doanh nghiệp và các tổ chức xã hội có trách nhiệm xây dựng một hệ sinh thái số lành mạnh, an toàn, trước hết dành cho trẻ em và giới trẻ. Các giải pháp công nghệ cần hướng tới thực thi pháp luật, tuân thủ chuẩn mực đạo đức, văn hóa số và các giá trị nhân văn trên không gian mạng.

Theo ông, gia đình, nhà trường và giáo viên cũng cần không ngừng cập nhật kiến thức, kỹ năng số và kỹ năng an toàn số để thu hẹp khoảng cách giữa các thế hệ, đồng thời đồng hành cùng trẻ trong cả đời sống thực lẫn môi trường trực tuyến.

1783849234889_7177389743157140062_7177389743157140062_76fe85918707df4b92521dfd580565ce
Một môi trường số an toàn chỉ có thể được xây dựng bằng trách nhiệm chung của toàn xã hội (nguồn ảnh: Cô giáo Nguyễn Thị Kim Phượng)

Điều Việt Nam cần lúc này có lẽ không phải là thêm nhiều quy định mới, mà là một hệ thống bảo vệ trẻ em đủ nhanh để theo kịp tốc độ phát triển của công nghệ, đủ mạnh để buộc các nền tảng công nghệ thực thi trách nhiệm và đủ linh hoạt để hỗ trợ gia đình, nhà trường trước những rủi ro mới. Trong kỷ nguyên AI và mạng xã hội, bảo vệ trẻ em không còn là cuộc đua xây dựng thêm các văn bản pháp luật, mà là cuộc đua đưa chính sách theo kịp công nghệ trước khi những khoảng trống trong quản lý trở thành những tổn thương không thể bù đắp đối với trẻ em.


Bình luận