08:22 13/08/2026

Khoảng trống nào trong "lá chắn" bảo vệ trẻ?

Khi trẻ không thể tự lên tiếng, khoảng trống từ gia đình, cộng đồng hay cơ chế giám sát can thiệp đang được lấp đầy như thế nào khi mà liên tiếp các vụ bạo hành dã man trẻ bị phanh phui thời gian gần đây?

Liên tiếp xảy ra các vụ bạo hành trẻ em tại nhiều môi trường khác nhau. Đáng lo ngại đó là những nơi trẻ được gửi gắm, chăm sóc và bảo vệ lại  trở thành nơi các em phải đối mặt với bạo hành thể xác và tinh thần.

Mới đây, đoạn clip ghi lại cảnh một người đàn ông dùng roi đánh một chú tiểu tại chùa Bầu, phường Vĩnh Phúc, Phú Thọ, được chia sẻ trên mạng xã hội khiến dư luận bức xúc. Trong clip cháu bé khóc lớn, khẩn thiết van xin vì đau nhưng người đàn ông vẫn tiếp tục đánh, bên cạnh có nhiều bé khác đang co ro chứng kiến. 

Theo đại diện chùa Bầu, người đàn ông trong clip là một phật tử, mới đến chùa xin tu tập hơn 3 tháng. Sau khi sự việc xảy ra, nhà chùa trình báo cơ quan chức năng và người đàn ông này bị tạm giữ, 5 chú tiểu được đưa đi giám định thương tích. Đại diện chùa cũng thừa nhận việc quản lý chưa tốt để xảy ra vụ việc.

Screenshot (30)
Người đàn ông được cho là phật tử có hành vi bạo hành chú tiểu gây bức xúc dư luận. (ảnh cắt từ clip)

Trước đó, tại cơ sở mầm non tư thục Lá Xanh, phường Thuận Giao, TP. Hồ Chí Minh, một bảo mẫu bị Công an TP. Hồ Chí Minh bắt người trong trường hợp khẩn cấp để điều tra hành vi bạo hành trẻ em. Theo cơ quan công an, Triệu Thị Tâm là người đã bạo hành các em nhỏ mới chỉ vừa chập chững biết đi,với những hành vi như bắn thun vào chân trẻ, đe dọa, quát nạt hay đánh vào đầu các em khiến dư luận không khỏi phẫn nộ.

Vụ việc một lần nữa khiến dư luận đặt câu hỏi về việc kiểm soát, giám sát những người được giao nhiệm vụ chăm sóc trẻ tại các cơ sở mầm non, nơi các em dành phần lớn thời gian trong ngày khi cha mẹ không ở bên.

Trường học, cơ sở giữ trẻ hay những nơi tiếp nhận, chăm sóc trẻ, những mái ấm cưu mang được xem là những lớp bảo vệ quan trọng. Thế nhưng, khi chính những người được giao nhiệm vụ chăm sóc lại có hành vi bạo lực, nguy cơ đối với trẻ càng khó được nhận diện nếu cơ chế giám sát không đủ chặt chẽ.

Đáng chú ý, vụ bé gái 11 tuổi P.G.K.L ở TP. Đồng Nai bị bạo hành lại đặt vấn đề ở một lớp bảo vệ khác đó là gia đình. Theo thông tin từ cơ quan công an, Dương Đại Long và mẹ của bé có quan hệ tình cảm, sống chung như vợ chồng, dù Long là chồng của mẹ nhưng em P.G.K.L lại sống trong đòn roi và sự sợ hãi khi sống cùng.

Đối tượng Long nhiều lần đánh đập bé gái trong những ngày cuối tháng 7 khiến cơ thể em dầy những viết thương bầm tím. Điều đáng nói, các lần bạo hành đều có mặt mẹ của em nhưng người mẹ không can ngăn hoặc có động thái bảo vệ con. Hành vi của Long được camera an ninh ghi lại và sau đó các đoạn clip được đăng tải lên mạng xã hội.

sda
Người mẹ ngồi nhìn con mình bị bạo hành (ảnh cắt từ clip)

Ba vụ việc xảy ra ở ba môi trường khác nhau, nơi cưu mang, chăm sóc trẻ, nơi là cơ sở mầm non và nơi là gia đình nhưng phía sau những vụ bạo hành ấy chung một điểm đáng lo ngại đó là những đứa trẻ vốn cần được người lớn bảo vệ lại đối mặt với bạo lực ngay tại môi trường mà các em lẽ ra phải được yêu thương nhất

Đằng sau mỗi vụ bạo hành không chỉ là hành vi của người trực tiếp gây ra tổn thương. Đó còn là câu chuyện về khả năng phát hiện sớm, sự lên tiếng của những người xung quanh, đặc biệt là người thân cận nhất, và cách hệ thống bảo vệ trẻ em vận hành khi xuất hiện dấu hiệu nguy cơ.

Khi một lớp bảo vệ không phát huy tác dụng, những lớp bảo vệ tiếp theo có đủ khả năng phát hiện và can thiệp hay không? Khoảng trống đang nằm ở đâu trong “lá chắn” bảo vệ trẻ?

Bạo lực có thể bắt đầu từ cách người lớn nhìn nhận việc dạy trẻ

Dưới góc độ tâm lý, TS Phạm Tiến Sỹ, giảng viên ngành Tâm lý học (Trường Đại học Khoa học, Đại học Huế), cho rằng tình trạng bạo hành trẻ em cần được nhìn nhận thấu đáo từ cả nguyên nhân cá nhân lẫn những lỗ hổng trong hệ thống bảo vệ.

“Tôi cho rằng có hai nhóm yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến tình trạng bạo hành trẻ em hiện nay. Vấn đề thứ nhất thuộc về hệ thống, khi những thói quen giáo dục truyền thống vẫn được duy trì, hệ thống bảo vệ trẻ em trong gia đình, cộng đồng còn yếu, nhận thức của những người lớn xung quanh về việc ‘định danh’ những gì được xem là bạo lực và hệ quả của nó vẫn còn rất hạn chế. Khía cạnh thứ hai, những áp lực hay vấn đề liên quan đến sức khỏe tinh thần của cha mẹ, người chăm sóc cũng góp phần gia tăng hành vi bạo lực”, TS Sỹ nhận định.

Screenshot 2026-08-13 at 10.07.04

TS Phạm Tiến Sỹ, giảng viên ngành Tâm lý học (Trường Đại học Khoa học, Đại học Huế)

Phân tích sâu hơn, TS Phạm Tiến Sỹ lưu ý rằng áp lực cuộc sống có thể tác động trực tiếp đến cách cha mẹ ứng xử với con cái. Nhiều nghiên cứu chỉ ra mối liên hệ sát sao giữa việc stress của phụ huynh và nguy cơ bạo lực, bởi khi quá căng thẳng, người lớn dễ chuyển sang các phương pháp giáo dục hà khắc, mang tính cưỡng ép hơn.

“Ngoài ra, tiền sử bị bạo hành của chính cha mẹ trước đây cũng là nguyên nhân dẫn đến hành vi bạo lực với con do họ có xu hướng suy giảm sự nhạy bén của người mẹ trong chăm sóc con, dẫn đến nguy cơ bạo lực cao hơn. Hiểu một cách đơn giản, khi mà cha mẹ có vấn đề về sức khỏe tâm lý hoặc có tiền sử bị bạo lực, họ sẽ kém nhạy cảm hơn trong việc nhận biết các nhu cầu của con, từ đó có xu hướng áp dụng các biện pháp giáo dục hà khắc, cưỡng ép hơn”, chuyên gia phân tích.

Thực tế cho thấy, bạo lực với trẻ không phải lúc nào cũng khởi phát bằng những hành vi tàn nhẫn, rõ rệt. Khi việc mắng chửi, quát tháo hay ép buộc bị bình thường hóa thành một phần của việc “dạy dỗ”, ranh giới giữa giáo dục và bạo hành rất dễ bị xóa nhòa. Do đó, bên cạnh việc trừng trị kẻ thủ ác, chúng ta cần nhìn thẳng vào môi trường sống của trẻ và thói quen hành xử của người lớn để nhổ tận gốc vấn đề.

Khi trẻ phát tín hiệu nhưng người lớn không nhận ra

Trẻ bị bạo hành thường không dễ dàng nói ra điều mình đang chịu đựng. Theo chuyên gia tâm lý, phản ứng của trẻ có thể theo hai hướng khá khác nhau. “Có hai xu hướng phản ứng phổ biến của trẻ. Xu hướng thứ nhất là sự sợ hãi, thu mình, tự ti, chịu đựng và chấp nhận mình là người có lỗi. Xu hướng thứ hai là những hành vi hướng ngoại như hung hăng, gây hấn, chống đối, vừa do cơ chế bắt chước, vừa là cơ chế phòng vệ tâm lý”, chuyên gia cho biết.

hg
(Ảnh minh họa)

Những thay đổi trong sinh hoạt cũng là dấu hiệu cha mẹ, giáo viên và người thân cần lưu ý. “Ngoài ra, các biểu hiện trong lúc ngủ cũng rất đáng lưu ý. Nếu trẻ bỗng dưng trở nên khó ngủ, giật mình, khóc đêm, nghiến răng, tay nắm chặt đến mức sáng dậy có vết dấu móng tay ấn vào lòng bàn tay… thì phụ huynh nên quan tâm, theo dõi trẻ kỹ hơn”, chuyên gia nói.Tuy nhiên, nhận ra những dấu hiệu này chưa đồng nghĩa với việc trẻ sẽ nói ra sự thật. “Việc trẻ lên tiếng hay không phụ thuộc vào nhiều yếu tố như lứa tuổi, năng lực nhận thức, tính cách…  Muốn gia tăng cơ hội chia sẻ và bộc lộ của trẻ thì người lớn cần hình thành ở trẻ niềm tin rằng các em luôn được lắng nghe, tin tưởng, tôn trọng và bảo vệ”, chuyên gia Sỹ nhấn mạnh.

Điều này càng đáng lưu ý khi người gây bạo hành lại là người thân hoặc người trực tiếp chăm sóc trẻ. Với một đứa trẻ còn phụ thuộc hoàn toàn vào người lớn, việc tự tìm kiếm sự giúp đỡ không phải lúc nào cũng dễ dàng.Vụ bé gái 11 tuổi bị bạo hành gần đây cũng đặt ra câu hỏi về khả năng bảo vệ trẻ ngay trong môi trường gia đình và những người lớn ở xung quanh em.

Câu chuyện này cho thấy một đứa trẻ không thể chỉ được bảo vệ bằng chính khả năng lên tiếng của mình.Nếu trẻ không nói thì người lớn phải nhận ra.Nếu gia đình không phát hiện thì nhà trường và cộng đồng cần có khả năng phát hiện.Và khi thông tin đã được đưa ra thì cơ quan có trách nhiệm phải hành động.

Khoảng trống trong những lá chắn bảo vệ trẻ

Đánh giá dưới lăng kính pháp lý, Luật sư Nguyễn Tuyết Nhung thẳng thắn cho rằng, việc các vụ bạo hành liên tục tái diễn chứng tỏ một bộ phận người nuôi dưỡng đang bất chấp đạo lý và coi thường kỷ cương pháp luật.

“Hành vi xâm phạm thân thể, sức khỏe của trẻ em không chỉ cấu thành vi phạm pháp luật mà còn xâm phạm trực tiếp đến quyền bất khả xâm phạm về thân thể và quyền được bảo vệ an toàn tính mạng, sức khỏe của trẻ em đã được quy định tại Hiến pháp năm 2013, Luật Trẻ em cùng các văn bản pháp luật chuyên ngành khác”, luật sư nhận định.

1786345383904_3092922254708644100_3092922254708644100_eb438571cc6970b57dd8d9eb89e169d8
Luật sư Nguyễn Tuyết Nhung (Công ty Luật TNHH Một Thành Viên Nhung Nguyễn, Đoàn Luật sư TP. Hồ Chí Minh)

Vị nữ luật sư cũng chỉ ra rằng, lỗ hổng chí mạng hiện nay chính là khâu phát hiện và giám sát. Không ít vụ việc thương tâm chỉ vỡ lở khi trẻ đã mang thương tật vĩnh viễn hoặc để lại hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

“Thứ nhất, công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát định kỳ và đột xuất tại một số cơ sở giáo dục mầm non độc lập, nhóm trẻ tư thục hoặc các điểm giữ trẻ gia đình đôi khi chưa thường xuyên, dẫn đến việc buông lỏng quản lý ở tuyến cơ sở. Thứ hai, đối với lứa tuổi từ 1 đến 3 tuổi, trẻ chưa có khả năng ngôn ngữ đầy đủ để trình bày sự việc cho gia đình, tạo cơ hội cho hành vi bạo hành bị che giấu nếu cơ sở không trang bị đầy đủ hệ thống camera giám sát hoạt động liên tục, minh bạch. Thứ ba, tâm lý e ngại can thiệp vào đời sống riêng tư hoặc công việc nội bộ của người khác từ phía cộng đồng xung quanh có thể khiến các dấu hiệu bất thường bị bỏ qua trong thời gian dài”, luật sư phân tích.

Như vậy, “lá chắn” bảo vệ trẻ không thể chỉ gói gọn sau cánh cửa gia đình. Đó phải là một màng lọc đa tầng với sự góp mặt của nhà trường, cơ sở giữ trẻ, hàng xóm và các ban ngành đoàn thể. Một đứa trẻ không thể lên tiếng, gia đình có thể vô tâm, hàng xóm ngại can thiệp, còn nơi giữ trẻ thì bưng bít thông tin. Chuỗi im lặng dây chuyền ấy chính là nguyên nhân khiến những mầm mống bạo hành có cơ hội kéo dài.

Theo Luật sư Nguyễn Tuyết Nhung, hệ thống văn bản về bảo vệ trẻ em tại Việt Nam nhìn chung đã khá toàn diện. Điểm nghẽn thực sự nằm ở khâu thực thi, giám sát và sự hời hợt trong phối hợp.

“Vướng mắc chủ yếu hiện nay có thể nằm ở khâu thực thi pháp luật và giám sát thường xuyên tại cấp cơ sở. Việc triển khai các quy định phòng ngừa, tiếp nhận thông tin tại một số địa phương đôi khi còn mang tính hình thức. Cơ chế phối hợp liên ngành giữa cơ quan chức năng trong một số trường hợp có thể chưa thực sự đồng bộ và kịp thời trong việc xác minh, xử lý thông tin tố giác ban đầu”, luật sư nhận định.

Ngoài ra câu chuyện người biết chuyện mà im lặng không làm gì theo luật sư Nhung khẳng định, tùy tính chất và mức độ, cá nhân hoặc tổ chức biết sự việc mà làm ngơ hoàn toàn có thể phải gánh trách nhiệm pháp lý. Đối với những trường hợp hành vi bạo hành đủ yếu tố cấu thành tội phạm, kẻ biết mà không báo hoặc cố tình che giấu sẽ bị xem xét xử lý nghiêm minh theo quy định của pháp luật.

Để bít lại lỗ hổng này, một trong những giải pháp mang tính đột phá được Luật sư Nguyễn Tuyết Nhung đề xuất là cơ chế bắt buộc báo tin.“Đề xuất thiết lập cơ chế bắt buộc báo tin đối với những người làm việc thường xuyên với trẻ em như giáo viên, nhân viên y tế, cán bộ xã hội là một hướng tiếp cận rất đáng cân nhắc. Kinh nghiệm từ nhiều quốc gia cho thấy quy định này giúp tạo ra mạng lưới an toàn nhiều tầng, giảm thiểu tình trạng bỏ sót thông tin do tâm lý e ngại của cá nhân”, luật sư cho biết.

Xây dựng Lá Chắn từ sự thức tỉnh của người lớn

Từ phân tích của luật sư Nhung Nguyễn có thể thấy để hoàn thiện lá chắn pháp lý bảo vệ trẻ em cần quy định rõ ràng về đối tượng, quy trình tới chế tài sử phạt. Hay như mọi giải pháp bền vững đều phải  bắt nguồn từ sự thức tỉnh của người lớn như TS Phạm Tiến Sỹ nhấn mạnh.

Việc hướng dẫn cha mẹ, người thân nhận diện cơn giận, kiểm soát cảm xúc và thay đổi tư duy giáo dục chính là liều vắc-xin hữu hiệu nhất để ngăn chặn bạo lực từ trong trứng.

ss
Chung tay bảo vệ trẻ em (ảnh minh họa)

Trước khi một sự việc bạo hành bị phơi bày chắc chắn đã có những tín hiệu cầu cứu, trước khi dư luận phẫn nộ phải chắc đã có những ánh mắt làm ngơ, một đứa trẻ không thể tự làm một tấm khiên bảo vệ mình khỏi những trận đòn roi, các em đang cần một điểm tựa an toàn từ người thân và bộ máy pháp lý vững chắc và hơn hết đó là tình yêu thương.