08:29 21/02/2026

Thực hiện quyền trẻ em trong giai đoạn mới: Thuận lợi, thách thức và hướng đi bền vững

Icon No Avatar Tre Em Viet Nam TS.BS. Vũ Thị Kim Hoa- PCT Hội BVQTEVN

Chỉ khi mỗi trẻ em được sống an toàn, được phát triển toàn diện và được lắng nghe, chúng ta mới thực hiện trọn vẹn mục tiêu vì hạnh phúc hôm nay và tương lai đất nước ngày mai.

Công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em luôn được Đảng, Nhà nước và toàn xã hội quan tâm, coi đây là nhiệm vụ chiến lược trong phát triển con người và nguồn nhân lực quốc gia. Từ khi Việt Nam phê chuẩn Công ước Liên hợp quốc về Quyền trẻ em năm 1990, hành trình 50 năm hợp tác Việt Nam – UNICEF đã ghi dấu những bước tiến lớn trong chăm sóc, giáo dục và bảo vệ trẻ em.

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với nhiều xu hướng tác động mạnh mẽ như chuyển đổi số, biến đổi khí hậu, già hóa dân số và hội nhập toàn cầu, công tác thực hiện quyền trẻ em càng có ý nghĩa then chốt đối với mục tiêu phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc.

VŨ THỊ KIM HOA
TS.BS. Vũ Thị Kim Hoa- PCT Hội BVQTE Việt Nam

Nhiều bước tiến trong thực hiện quyền trẻ em

Việt Nam đã thể hiện cam kết chính trị mạnh mẽ trong bảo vệ và thực hiện quyền trẻ em. Các chủ trương, chính sách của Đảng, Quốc hội, Chính phủ được ban hành đồng bộ, trong đó Chỉ thị số 28-CT/TW của Bộ Chính trị về tăng cường công tác chăm sóc, giáo dục và bảo vệ trẻ em là dấu mốc quan trọng. Nhiều chương trình, đề án quốc gia được triển khai, ngân sách và nguồn lực xã hội hóa ngày càng tăng, vấn đề trẻ em được đưa vào chiến lược phát triển kinh tế – xã hội giai đoạn 2021–2030 của cả nước và các địa phương.

Các tỉnh, thành phố đã chủ động xây dựng và tổ chức thực hiện chương trình, kế hoạch chăm sóc, bảo vệ trẻ em phù hợp với tình hình thực tế. Nhiều chính sách địa phương được ban hành nhằm hỗ trợ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, mở rộng đối tượng thụ hưởng như trẻ em mắc bệnh hiểm nghèo; nhiều tỉnh xây dựng bể bơi, lớp dạy bơi vùng khó khăn để giảm tử vong do đuối nước.

Hệ thống pháp luật, chính sách về trẻ em ngày càng hoàn thiện, được rà soát, sửa đổi bảo đảm tính đồng bộ và khả thi. Ưu tiên trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, trẻ em dân tộc thiểu số, vùng khó khăn; nâng mức trợ cấp xã hội thường xuyên, bảo hiểm y tế, hỗ trợ học bán trú, phẫu thuật tim cho trẻ bệnh tim bẩm sinh được triển khai ngày càng hiệu quả.

Bộ máy tổ chức làm công tác trẻ em từ Trung ương đến địa phương được kiện toàn, tăng cường phối hợp giữa các bộ, ngành, đoàn thể và các tổ chức xã hội. Hệ thống mạng lưới công tác xã hội, dịch vụ bảo vệ trẻ em, tổng đài 111 hoạt động ngày càng hiệu quả, góp phần phát hiện, hỗ trợ và can thiệp kịp thời các vụ việc xâm hại, bạo lực trẻ em. Công tác phối hợp liên ngành được thực hiện chặt chẽ hơn, đặc biệt trong phòng chống xâm hại trẻ em, bảo vệ trẻ em trên môi trường mạng, phòng chống tai nạn thương tích, chăm sóc phát triển toàn diện trẻ em những năm đầu đời.

Hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, sự vào cuộc của các tổ chức xã hội, doanh nghiệp và cộng đồng đã tạo chuyển biến rõ nét trong việc bảo đảm quyền trẻ em. Sự tham gia của cộng đồng và các tổ chức xã hội ngày càng sâu rộng. Hội Bảo vệ Quyền Trẻ em Việt Nam đã góp ý, tư vấn xây dựng hơn 20 văn bản luật, phát biểu chính kiến về hàng trăm vụ việc vi phạm quyền trẻ em và trực tiếp bảo vệ pháp lý cho nhiều trường hợp. Các chương trình như “Kỷ luật tích cực trong thực hành làm cha mẹ” đã thu hút hàng nghìn phụ huynh, giúp nâng cao kỹ năng chăm sóc, nuôi dạy trẻ.

Bên cạnh nguồn lực nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức xã hội, doanh nghiệp, cá nhân đã huy động hàng trăm tỷ đồng mỗi năm hỗ trợ hàng trăm nghìn trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt được chăm sóc y tế, học tập và học nghề. Các đơn vị như Quỹ Bảo trợ Trẻ em Việt Nam, Hội Bảo vệ Quyền Trẻ em Việt Nam và các tổ chức đã đóng góp đáng kể vào công tác này.

Trên trường quốc tế, Việt Nam đã phê chuẩn các công ước, điều ước quốc tế về quyền trẻ em, khẳng định cam kết mạnh mẽ gắn việc thực hiện quyền trẻ em với Mục tiêu phát triển bền vững đến năm 2030. Việt Nam còn tranh thủ hiệu quả hỗ trợ kỹ thuật và chuyên môn từ các đối tác quốc tế như UNICEF, WHO, ILO…

wellspring2025
Trường Song ngữ Quốc tế Wellspring có phương pháp giáo dục nổi trội, thúc đẩy phát triển toàn diện cho học trò.

Những thách thức đặt ra trong giai đoạn mới

Bên cạnh kết quả đạt được, công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em vẫn đối mặt nhiều khó khăn, thách thức. Trước hết là tác động của bối cảnh toàn cầu: biến đổi khí hậu, xung đột, suy thoái kinh tế và dịch bệnh làm gia tăng rủi ro với trẻ em. Việt Nam nằm trong nhóm 5 quốc gia chịu ảnh hưởng nặng nề nhất của biến đổi khí hậu; khoảng 21 triệu trẻ em sống trong khu vực có nguy cơ khí hậu cao. Thiên tai, hạn hán, xâm nhập mặn khiến trẻ em bị gián đoạn học tập, suy dinh dưỡng, mắc bệnh và chịu tổn thương tâm lý.

Cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 và chuyển đổi số mở ra cơ hội học tập, tiếp cận tri thức mới, nhưng đồng thời tiềm ẩn rủi ro lớn về an toàn mạng, bạo lực trực tuyến, nghiện thiết bị số, và khoảng cách số giữa các nhóm trẻ.

Bên trong nước, nhiều vấn đề xã hội ảnh hưởng đến trẻ em như di cư lao động, đô thị hóa nhanh, thay đổi mô hình gia đình, già hóa dân số. Một số nhóm trẻ em di cư, trẻ khuyết tật, trẻ nghèo đa chiều vẫn đối mặt với bất bình đẳng về cơ hội phát triển.

Năm 2024 còn khoảng 8,4% trẻ em nghèo đa chiều (tương đương 2,1 triệu em). Ở nông thôn, tỷ lệ này là 11,2%, cao hơn nhiều so với 3% ở thành thị; trẻ dân tộc thiểu số có tỷ lệ nghèo tới 33,1%. Tỷ suất tử vong, suy dinh dưỡng thấp còi ở miền núi cao gấp 2–3 lần đồng bằng. Việt Nam đang đối mặt “gánh nặng dinh dưỡng kép”: suy dinh dưỡng vẫn phổ biến trong khi thừa cân, béo phì gia tăng.

Tình trạng bạo lực, xâm hại trẻ em tuy giảm nhưng vẫn diễn biến phức tạp; xâm hại tình dục trực tuyến ngày càng tinh vi. Lao động trẻ em giảm nhưng hơn nửa vẫn làm việc trong môi trường độc hại. Tử vong do đuối nước và tai nạn giao thông ở trẻ em còn cao, kỹ năng an toàn phòng tránh tai nạn của trẻ còn hạn chế.

Công tác chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt còn bất cập: thiếu mô hình gia đình – cộng đồng, thiếu nhân lực được đào tạo chuyên sâu về tâm lý – xã hội, thiếu cơ chế giám sát chất lượng chăm sóc. Khoảng 40% xã chưa có nhà văn hóa thiếu nhi hoặc sân chơi an toàn, khiến nhiều trẻ bị hạn chế cơ hội vui chơi, phát triển kỹ năng xã hội. Hệ thống bảo vệ trẻ em ở cộng đồng còn yếu, thiếu cán bộ chuyên trách và nhân viên công tác xã hội, đặc biệt tại vùng sâu, vùng xa.

KH3

Hướng đi bền vững trong thời gian tới

Để tiếp tục bảo đảm thực hiện quyền trẻ em, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, cần tập trung một số định hướng trọng tâm sau:

Một là, thực hiện nghiêm các quy định pháp luật, chính sách liên quan đến trẻ em, nhất là Chỉ thị số 28-CT/TW của Bộ Chính trị. Lồng ghép mục tiêu chăm sóc, bảo vệ trẻ em vào chiến lược phát triển kinh tế – xã hội, quy hoạch vùng, ngành và địa phương.

Hai là, hoàn thiện hệ thống pháp luật, chính sách về trẻ em theo hướng đồng bộ, khả thi, phù hợp với bối cảnh chuyển đổi số, biến đổi khí hậu, di cư lao động và mô hình chính quyền hai cấp.

Ba là, nâng cao chất lượng chính sách trợ giúp xã hội, mở rộng đối tượng thụ hưởng, cải thiện mức trợ cấp so với nhu cầu sống tối thiểu, bảo đảm mọi trẻ em – đặc biệt là trẻ khuyết tật, trẻ dân tộc thiểu số, trẻ nghèo – được tiếp cận dịch vụ y tế, giáo dục, dinh dưỡng và bảo vệ.

Bốn là, tập trung giải quyết các vấn đề nổi cộm như: giảm tình trạng xâm hại, bạo lực, đuối nước, tai nạn giao thông; phòng chống suy dinh dưỡng và thừa cân; bảo vệ trẻ khỏi các sản phẩm độc hại; tăng cường chăm sóc sức khỏe tinh thần và tiêm chủng đầy đủ cho trẻ.

Năm là, phát huy vai trò của các tổ chức xã hội và Hội Bảo vệ Quyền Trẻ em Việt Nam trong góp ý, giám sát, thu nhận ý kiến trẻ em, cộng đồng; đẩy mạnh truyền thông, tư vấn, hỗ trợ pháp lý cho các trường hợp vi phạm quyền trẻ em.

Sáu là, coi gia đình là nền tảng bền vững nhất trong bảo vệ trẻ em. Cần đẩy mạnh giáo dục gia đình, kỹ năng làm cha mẹ, hướng dẫn trẻ phát triển toàn diện cả thể chất và tinh thần.

Bảy là, đổi mới công tác truyền thông, ứng dụng công nghệ số trong phát hiện, quản lý, hỗ trợ trẻ em bị bạo lực, xâm hại. Phát triển hệ thống dữ liệu quốc gia về trẻ em, tăng cường chia sẻ thông tin liên ngành.

Tám là, bảo đảm nhân lực làm công tác trẻ em theo quy định của Luật Trẻ em; chú trọng đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng cho cán bộ, nhân viên công tác xã hội, cộng tác viên cơ sở; bố trí ngân sách phù hợp.

Chín là, huy động mạnh mẽ nguồn lực xã hội hóa từ doanh nghiệp, tổ chức và cá nhân trong nước, quốc tế cho các chương trình chăm sóc, giáo dục và bảo vệ trẻ em.

Mười là, tăng cường hợp tác quốc tế, triển khai hiệu quả các công ước, điều ước mà Việt Nam là thành viên, thực hiện các khuyến nghị của Ủy ban Quyền trẻ em Liên hợp quốc.

Công tác chăm sóc ,giáo dục và bảo vệ trẻ em là trách nhiệm của toàn xã hội – trong đó Nhà nước giữ vai trò chủ đạo, gia đình là nền tảng, xã hội là môi trường hỗ trợ và các tổ chức như Hội Bảo vệ Quyền Trẻ em Việt Nam là cầu nối quan trọng. Trong giai đoạn mới, cần phát huy hơn nữa vai trò giám sát, góp ý, huy động nguồn lực và nâng cao giáo dục gia đình.

Chỉ khi mỗi trẻ em được sống an toàn, được phát triển toàn diện và được lắng nghe, chúng ta mới thực hiện trọn vẹn mục tiêu “Vì hạnh phúc của trẻ em hôm nay và tương lai đất nước ngày mai”.

Like fanpage để theo dõi thông tin mới nhất


Bình luận