07:09 16/08/2026

Ai bảo vệ trẻ em khi tiếng kêu cứu thống thiết vang lên "em đau lắm rồi"?

Ông Hà Đình Bốn – Phó Chủ tịch Hội Bảo vệ quyền trẻ em Việt Nam nhận định, vụ bạo hành tại chùa Bầu đã lộ ra khoảng trống trong cơ chế bảo vệ trẻ em trước khi tiếng kêu “em đau lắm rồi” vang lên.

 LTS: Trước vụ việc bạo hành trẻ em tại chùa Bầu (tỉnh Phú Thọ), câu chuyện không chỉ dừng ở trách nhiệm của người trực tiếp gây ra hành vi bạo lực, mà đặt ra những câu hỏi lớn hơn về khoảng trống trong cơ chế phát hiện, giám sát và bảo vệ trẻ em. Trong cuộc trao đổi với Tạp chí Trẻ em Việt nam, ông Hà Đình Bốn – Phó Chủ tịch Hội Bảo vệ quyền trẻ em Việt Nam, nguyên Vụ trưởng Vụ Pháp chế (Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội) phân tích những lỗ hổng cần được nhìn nhận và giải pháp để không phải chờ đến khi trẻ cất tiếng kêu cứu mới được bảo vệ.

TỪ MỘT VỤ BẠO HÀNH PHÁT HIỆN RA KHOẢNG TRỐNG BẢO VỆ TRẺ EM YẾU THẾ

Thưa ông Hà Đình Bốn, từ góc độ bảo vệ quyền trẻ em, ông nhìn nhận thế nào về việc trẻ em bị đánh gây thương tích tại chùa Bầu, trong đó có cháu bật khóc, kêu “em đau lắm rồi”?

Ông Hà Đình Bốn: Tôi cho rằng cần nhìn nhận vụ việc này ở tầm sâu hơn chuyện một người đánh 5 cháu bé. Nếu chỉ nói “đánh trẻ em là hành vi bạo lực và người đánh phải chịu trách nhiệm” thì đúng, nhưng chưa đủ. Vấn đề lớn hơn là vì sao một đứa trẻ lại rơi vào tình trạng hoàn toàn bất lực trước người lớn và cơ chế bảo vệ cháu đã không hoạt động trước khi sự việc trở nên nghiêm trọng.

Câu nói “em đau lắm rồi” của một cháu bé là chi tiết ám ảnh. Đó không chỉ là lời kêu đau về thể chất mà còn là một tín hiệu cầu cứu: cháu đang bị tổn thương, không chịu đựng được nữa và cần được bảo vệ. Khi một đứa trẻ đã khóc, đã nói đau mà hành vi bạo lực vẫn tiếp diễn, mọi ranh giới của “dạy bảo”, “uốn nắn” hay “răn đe” đều đã bị vượt qua. Không có giáo dục nào được thực hiện bằng cách khiến trẻ sợ hãi, đau đớn và bất lực.

Trong thực tiễn bảo vệ trẻ em, vẫn có những cách biện minh như đánh trẻ vì thương, vì muốn trẻ nên người hay vì “ngày trước chúng tôi cũng bị đánh”. Nhưng đó là cách nhìn của người lớn, không phải từ quyền của trẻ em.

Luật Trẻ em đặt nguyên tắc bảo đảm lợi ích tốt nhất của trẻ và nghiêm cấm các hành vi xâm hại trẻ em. Vì vậy, nhìn từ quyền trẻ em, đây trước hết là vụ việc bạo lực, xâm phạm nghiêm trọng quyền được bảo vệ về tính mạng, thân thể, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm và sự phát triển của các cháu. Trách nhiệm cụ thể phải do cơ quan có thẩm quyền xác định trên cơ sở chứng cứ, nhưng không thể dùng lý do giáo dục hay tôn giáo để hợp thức hóa bạo lực.

hà đình bốn - chùa bầu
Ông Hà Đình Bốn – Phó Chủ tịch Hội Bảo vệ quyền trẻ em Việt Nam, nguyên Vụ trưởng Vụ Pháp chế (Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội). Ảnh: NVCC

Điều đáng suy nghĩ trong vụ việc này là nhiều cháu bị đánh, như vậy đây không còn là câu chuyện của một đứa trẻ và một người lớn trong một thời điểm, mà đặt ra câu hỏi về môi trường chăm sóc: hành vi này xảy ra một lần hay đã trở thành phương thức quản lý trẻ; các cháu có sợ người chăm sóc không; trước đó có dấu hiệu cảnh báo nào; những người có trách nhiệm quản lý cơ sở có biết hoặc có khả năng biết hay không.

Một vụ việc bảo vệ trẻ em không nên chỉ dừng ở câu hỏi “ai đã đánh cháu?”, mà phải hỏi tiếp: “Vì sao người đó có thể đánh cháu?”, “Vì sao cháu không được bảo vệ?” và “Cơ chế nào đáng lẽ phải ngăn hành vi đó nhưng đã không hoạt động?”. Nếu chỉ xử lý người trực tiếp đánh trẻ mà không nhìn lại môi trường để hành vi đó xảy ra, chúng ta mới xử lý hậu quả chứ chưa xử lý được nguy cơ.

Một người lớn có thể nghĩ mình chỉ “phạt” trẻ, nhưng với trẻ, đó có thể là trải nghiệm về sự sợ hãi, nhục nhã và mất an toàn ngay tại nơi đáng lẽ phải được bảo vệ. Bên cạnh những thương tích có thể nhìn thấy, còn có tổn thương tâm lý: trẻ sợ người lớn, mất niềm tin, phải im lặng để tránh bị phạt hoặc nghĩ rằng mình bị đánh vì mình đáng bị như vậy. Những tổn thương ấy không phải lúc nào cũng thể hiện ngay trên cơ thể.

Điều tôi trăn trở nhất là: chúng ta biết về những vết thương của các cháu hôm nay, nhưng liệu có biết trước đó các cháu đã từng sợ hãi bao nhiêu lần? Nếu câu trả lời là chưa biết, đó chính là khoảng trống mà hệ thống bảo vệ trẻ em phải nghiêm túc rà soát.

Một hệ thống tốt không phải chỉ xuất hiện sau khi trẻ đã bị đánh, bị thương và có người ghi lại hình ảnh. Hệ thống ấy phải nhận ra nguy cơ trước khi cú đánh đầu tiên xảy ra. Và tôi muốn nói rất rõ: đứa trẻ không có trách nhiệm phải kêu “em đau lắm rồi” thì người lớn mới có trách nhiệm bảo vệ. Trách nhiệm ấy phải bắt đầu từ trước đó, từ khi tiếp nhận trẻ, lựa chọn người chăm sóc, kiểm tra môi trường sống, lắng nghe những biểu hiện bất thường và tạo ra một nơi mà trẻ có thể nói “cháu sợ”, “cháu không muốn”, “cháu bị đánh” mà không sợ bị trừng phạt.

Nếu phải nói ngắn gọn về vụ việc này, điều đau lòng không chỉ là một đứa trẻ bị đánh đến mức bật khóc. Đáng lo hơn là trước khi tiếng kêu “em đau lắm rồi” vang lên, có thể đã tồn tại một khoảng trống trong hệ thống bảo vệ – nơi những người có trách nhiệm đã không nghe thấy tiếng kêu cứu của các cháu. Chính khoảng trống ấy mới là điều chúng ta phải làm rõ và khắc phục.

Việc một người đang tu tập tại chùa, hàng ngày tiếp xúc với trẻ và có hành vi bạo lực, cho thấy khoảng trống nào, thưa ông?

Ông Hà Đình Bốn: Tôi cho rằng đây là câu hỏi cốt lõi nhất của vụ việc. Theo thông tin được công khai, người trực tiếp đánh các cháu được xác định là Nguyễn Thế Duy, hiện tu tập tại chùa và trước đó có thông tin người này là một phật tử mới về phụ giúp chùa khoảng 3-4 tháng. Câu hỏi đặt ra là: Ai đã đánh giá người này đủ điều kiện để tiếp xúc và quản lý trẻ?

Đây là khoảng trống rất đáng lo ngại: trong nhiều cơ sở chăm sóc trẻ ngoài hệ thống chính thức, chúng ta đôi khi tuyển chọn người chăm sóc theo tiêu chí “người tốt, có lòng từ bi, nhiệt tình, tự nguyện”, nhưng lòng tốt không đồng nghĩa với năng lực chăm sóc trẻ. Chăm sóc trẻ em, nhất là trẻ có hoàn cảnh đặc biệt, là một công việc có tính chuyên môn và trách nhiệm pháp lý cao.

Chúng ta không thể hiểu rằng “ai có lòng thì có thể chăm trẻ” mà phải xác định rõ là “ai chăm sóc trẻ phải được xác minh, phân công, đào tạo, giám sát và chịu trách nhiệm”. Theo tôi, phải có ít nhất bốn lớp kiểm soát:

Một là, xác minh, xem xét đánh giá kỹ người trước khi giao nhiệm vụ (theo quy trình riêng);

Hai là, phân công rõ người được phép tiếp xúc, nuôi dưỡng,chăm sóc trẻ;

Ba là, giám sát độc lập, không để một người vừa chăm sóc vừa tự kiểm soát mình;

Bốn là, cơ chế phản ánh an toàn để trẻ, người dân, tình nguyện viên hoặc nhân viên khác có thể báo ngay khi phát hiện dấu hiệu bất thường.

LỖ HỔNG HỆ THỐNG VÀ GIÁM SÁT: ĐỪNG ĐỂ TRẺ PHẢI CHỊU NHIỀU TỔN THƯƠNG MỚI ĐƯỢC PHÁT HIỆN

Nếu cơ sở chăm sóc trẻ không an toàn, trách nhiệm đưa trẻ đến nơi an toàn thuộc về ai? Làm thế nào tránh “cha chung không ai khóc”? Có cần rà soát toàn bộ các cơ sở tôn giáo đang tiếp nhận, chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em?

Ông Hà Đình Bốn: Tôi cho rằng phải chấm dứt tư duy “nhiều cơ quan cùng có trách nhiệm” nhưng không có một người cụ thể chịu trách nhiệm đến cùng. Theo cơ chế bảo vệ trẻ em, UBND cấp xã, phường nơi xảy ra vụ việc hoặc nơi trẻ cư trú có vai trò rất quan trọng trong việc tổ chức đánh giá nguy cơ, xây dựng, phê duyệt và triển khai kế hoạch hỗ trợ, can thiệp; người làm công tác bảo vệ trẻ em cấp xã có trách nhiệm đánh giá nguy cơ, tham gia kế hoạch can thiệp và theo dõi trẻ.

Trong trường hợp khẩn cấp, pháp luật cũng đã có cơ chế tạm thời đưa trẻ vào cơ sở trợ giúp xã hội khi chưa lựa chọn được hình thức chăm sóc thay thế phù hợp.  Vấn đề không hẳn là “không có cơ quan chịu trách nhiệm”, mà là phải làm rõ ai là người đầu mối chịu trách nhiệm vụ việc. Quy trình bảo vệ trẻ em đã định rõ quản lý trường hợp: Mỗi trường hợp trẻ em bị xâm hại phải có hồ sơ, kế hoạch trợ giúp, một đầu mối, một thời hạn, cơ quan, cá nhân chịu trách nhiệm theo dõi đến cùng.

Tôi đề xuất mỗi trường hợp trẻ em bị xâm hại phải có: một hồ sơ, một kế hoạch, một đầu mối, một thời hạn, một cơ quan chịu trách nhiệm theo dõi đến cùng. Không nên để tình trạng trách nhiệm bị phân tán giữa nhiều cơ quan đến mức cuối cùng không xác định được đầu mối chịu trách nhiệm theo dõi đến cùng, cũng như tình trạng hiện tại của trẻ.

Việc cần và nên làm ngay việc rà soát toàn bộ các cơ sở tôn giám đang tiếp nhận, chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em. Mọi tổ chức, cá nhân, bất kể thuộc lĩnh vực tôn giáo, từ thiện, giáo dục hay tư nhân, khi chăm sóc trẻ em đều phải tuân thủ pháp luật về trẻ em; nghiêm cấm hoạt động tôn giáo xâm phạm thân thể, sức khỏe, tính mạng, danh dự, nhân phẩm của người khác.

Tôi đề nghị rà soát theo hướng lập bản đồ toàn bộ trẻ em đang được chăm sóc ngoài gia đình, trong đó có: Chùa, cơ sở tôn giáo; Cơ sở từ thiện; Mái ấm; Nhóm thiện nguyện; Cơ sở chăm sóc tự phát; Các hộ gia đình nhận chăm sóc trẻ; Những nơi có trẻ sống tập trung nhưng không được gọi chính thức là cơ sở bảo trợ.

Mục tiêu không phải là đóng cửa các cơ sở làm tốt. Ngược lại, những cơ sở làm tốt phải được hỗ trợ để chuẩn hóa; cơ sở có nguy cơ phải được chấn chỉnh; cơ sở không đủ điều kiện hoặc không bảo đảm an toàn thì phải có biện pháp bảo vệ trẻ.

bạo hành chùa bầu
Cháu bé bị đánh đập tàn nhẫn tại chùa Bầu. Ảnh chụp từ clip.

Theo ông, chính quyền cấp cơ sở còn những điểm yếu nào trong phát hiện, tiếp nhận thông tin và can thiệp khi trẻ có nguy cơ bị bạo lực tại các cơ sở ngoài hệ thống bảo trợ truyền thống?

Ông Hà Đình Bốn: Theo tôi, có một số điểm yếu cần nhìn thẳng thắn:

Một là, tư duy quản lý còn thiên về quản lý cơ sở hơn là quản lý sự an toàn của từng đứa trẻ. Một cơ sở có thể hoạt động ổn định, có quan hệ tốt với cộng đồng, nhưng điều đó không có nghĩa là mọi trẻ em bên trong đều an toàn.

Hai là, có những trẻ em “nằm ngoài tầm nhìn” của hệ thống. Trẻ sống ở chùa, mái ấm, nhà từ thiện hoặc một nhóm thiện nguyện có thể không được xác định rõ là đang thuộc hình thức chăm sóc thay thế nào, ai là người giám hộ, ai chịu trách nhiệm pháp lý.

Ba là, tiếng nói của trẻ chưa được coi là nguồn cảnh báo quan trọng. Trẻ có thể không biết gọi tên “bạo lực”, nhưng các cháu biết mình sợ ai, sợ điều gì, ai thường đánh mình, ở đâu các cháu cảm thấy không an toàn.

Bốn là, việc kiểm tra nhiều khi mang tính sự vụ. Có vụ việc thì kiểm tra; báo chí phản ánh thì kiểm tra; có đơn thư thì kiểm tra. Trong khi bảo vệ trẻ em phải là một cơ chế phòng ngừa liên tục, chứ không chờ đến khi có thương tích mới can thiệp.

Năm là, thiếu một cơ chế dữ liệu liên thông về trẻ em đang được chăm sóc ngoài gia đình. Tôi cho rằng đây là vấn đề cần được đặc biệt quan tâm. Chúng ta phải biết trên địa bàn mình có bao nhiêu trẻ em đang sống tại các cơ sở tôn giáo, cơ sở thiện nguyện, cơ sở chăm sóc ngoài công lập; từng cháu có hoàn cảnh thế nào; ai chịu trách nhiệm. Nếu chính quyền không biết một đứa trẻ đang sống ở đâu thì rất khó nói đến bảo vệ quyền của đứa trẻ ấy.

Cuối cùng, tôi muốn nói, đừng đợi đến khi một đứa trẻ bật khóc và nói ‘em đau lắm rồi’ thì người lớn mới nhận ra rằng mình có trách nhiệm”. Trẻ em không có khả năng tự bảo vệ mình như người trưởng thành. Một đứa trẻ được đưa vào chùa, vào mái ấm hay vào bất kỳ cơ sở chăm sóc nào là đứa trẻ đang trao một phần quyền kiểm soát cuộc đời mình cho người lớn. Vì thế, người lớn nhận chăm sóc trẻ không chỉ nhận một đứa trẻ để nuôi ăn, cho ở và cho đi học. Họ nhận một trách nhiệm pháp lý, trách nhiệm đạo đức và trách nhiệm xã hội.

Đối với gia đình, việc gửi trẻ vào cơ sở chăm sóc không đồng nghĩa với việc chấm dứt trách nhiệm theo dõi, bảo vệ và bảo đảm quyền lợi của trẻ

Với các cơ sở tôn giáo và từ thiện, tôi mong muốn một điều rất rõ ràng: lòng từ bi phải đi cùng pháp luật và chuyên môn. Không thể lấy thiện tâm để thay thế tiêu chuẩn bảo vệ trẻ em. Một người có lòng tốt chưa chắc đã có kỹ năng chăm sóc trẻ; một người được tin tưởng trong sinh hoạt tôn giáo cũng chưa mặc nhiên đủ điều kiện quản lý trẻ em.

Với chính quyền địa phương, tôi cho rằng cần thay đổi cách tiếp cận: đừng chỉ hỏi “cơ sở này có giấy tờ gì?”, mà trước hết phải hỏi “những đứa trẻ ở đây có an toàn không?”. Bởi suy cho cùng, thước đo cuối cùng của một cơ chế bảo vệ trẻ em không phải là chúng ta đã ban hành bao nhiêu văn bản, tổ chức bao nhiêu cuộc kiểm tra, mà là: Khi một đứa trẻ sợ hãi, có người nhận ra không? Khi một đứa trẻ bị đánh, có người bảo vệ không? Khi một đứa trẻ nói “em đau”, có người dừng lại và lắng nghe không?

Và nếu câu trả lời là “không” thì dù cơ sở đó mang tên gì, thuộc tổ chức nào cũng cho thấy thực tế vẫn còn một khoảng trống trong hệ thống bảo vệ trẻ em cần được nhìn nhận và khắc phục.

Trân trọng cảm ơn ông về những chia sẻ ý nghĩa!