15:19 13/09/2026

Đưa AI vào trường học: Cơ hội và thách thức

Khi AI vào lớp học, giáo dục trẻ em sẽ thay đổi ra sao?

Trên thế giới, các hệ thống giáo dục đang tìm cách đặt ra những “hàng rào” phù hợp về độ tuổi, cách sử dụng và mức độ giám sát với trẻ em. Việt Nam chọn hướng đưa AI vào trường học, nhưng đi cùng là yêu cầu về an toàn, đạo đức và trách nhiệm trong cách học sinh sử dụng công nghệ này.

LTS: Tìm thông tin, giải bài tập, tìm ý tưởng hay tạo nội dung – Trí tuệ nhân tạo (AI) đang trở thành một “trợ lý” quen thuộc của nhiều học sinh. Từ năm học 2026-2027, Việt Nam chính thức đưa giáo dục AI vào trường phổ thông, đồng thời đứng trước bài toán làm sao để học sinh sử dụng công nghệ này đúng cách, an toàn và có trách nhiệm.

Những thay đổi ấy đang đặt giáo dục trước một câu hỏi không thể né tránh: Khi AI ngày càng tham gia sâu vào việc học, nhà trường và cha mẹ cần chuẩn bị gì cho trẻ? Trước những băn khoăn ấy, Tạp chí Trẻ em Việt Nam đã khảo sát và khởi đăng tuyến bài “Đưa AI vào trường học: Cơ hội và thách thức”, nhìn từ việc AI đã thay đổi cách học của học sinh, cách Việt Nam đưa nội dung này vào nhà trường và những điều đặc biệt cần lưu ý khi trẻ sử dụng AI.

Trân trọng gửi tới quý độc giả!

Bài 1: Khi AI vào lớp học, giáo dục trẻ em sẽ thay đổi ra sao?

*****

AI sẽ làm thay đổi cách học của học sinh

Chia sẻ tại hội thảo quốc gia về phát triển khoa học giáo dục trong kỷ nguyên đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số tại Đại học Hà Nội vào tháng 12 năm 2025, GS Lê Anh Vinh - Viện trưởng Viện Khoa học giáo dục Việt Nam nhận định rằng, việc công nghệ cung cấp câu trả lời nhanh chóng có thể làm suy giảm năng lực tư duy bậc cao của học sinh, bao gồm tư duy phản biện, khả năng giải quyết vấn đề phức tạp và sự kiên trì với vấn đề khó.

"Ngày xưa khi còn là học sinh, có những bài toán sao, có thể ngẫm nghĩ cả tuần, bạn nào giải được thì hào hứng lắm. Nhưng bây giờ, học sinh không có khái niệm như thế. Đưa bài không làm được thì bảo “con chưa học, con không biết”. Học sinh bây giờ quá đề cao tốc độ, muốn gì cũng phải có câu trả lời ngay, không chờ đợi chặng đường để ra kết quả nữa. Đây là vấn đề của công nghệ. Sự kiên trì của học sinh cũng mất dần đi", ông Vinh cảnh báo.

1789006243172_279597697273872420_4678971641645993258_ac30823af8ddf7432f3353aab070b881
GS.TS Lê Anh Vinh, Viện trưởng Viện Khoa học giáo dục Việt Nam. (Ảnh: Trường Đại học Hà Nội)

Sự thay đổi này, phản ánh một thực tế AI không còn là công nghệ đứng ngoài lớp học. Nó đã đi vào quá trình học tập của học sinh, từ tìm kiếm thông tin, tóm tắt tài liệu đến hỗ trợ làm bài tập và thậm chí là làm thay bài tập. 

Theo dữ liệu PISA 2025 của Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD), 69% học sinh Việt Nam cho biết sử dụng chatbot AI để hỗ trợ việc học ít nhất một lần mỗi tuần, cao hơn đáng kể mức trung bình 46% của các nước OECD. Có 52% sử dụng AI để soạn thảo văn bản cho bài tập, 47% dùng để tóm tắt văn bản và 40% dùng để nghiên cứu sơ bộ một chủ đề mới. Chỉ khoảng 4% học sinh Việt Nam cho biết gần như không sử dụng chatbot AI cho bất kỳ nhiệm vụ học tập nào được khảo sát.  

AI có thể đem lại những lợi ích rõ ràng cho việc học. Một học sinh chưa hiểu bài có thể yêu cầu giải thích theo cách đơn giản hơn, xin thêm ví dụ hoặc luyện tập thêm. Công cụ cũng có khả năng đưa ra phản hồi nhanh và hỗ trợ cá nhân hóa quá trình học tập. Nhưng chính sự thuận tiện đó cũng tạo ra một nghịch lý, AI càng có khả năng làm thay nhiều phần việc của học sinh, nguy cơ học sinh không còn thực sự làm phần việc đó càng lớn.

Em Trần Hà Chi học sinh lớp 12CT, Trường THPT Nguyễn Bỉnh Khiêm (Hà Nội) cho biết, trước đây, khi gặp bài toán khó, em thường cố gắng tự suy nghĩ, còn với bài văn, em tự lập ý, tìm luận điểm rồi mới viết. Nhưng từ khi sử dụng AI, em nhận ra bản thân ngày càng có xu hướng mở công cụ này lên và hỏi ngay khi gặp khó khăn.

“Em nhận ra rằng, AI sẽ như một người bạn đồng hành tích cực nếu chúng ta biết sử dụng ở mức độ có thể tham khảo và cho lời khuyên về những kiến thức chưa thể với tới, nhiều kiến thức mới chưa từng được học, nhưng nếu phụ thuộc để có bài giải nhanh thì sẽ làm cho học sinh lười hơn, dần dần mất đi khả năng tự lập luận, tự tư duy trước một vấn đề nào đó và thậm chí mất đi cả cảm xúc khi viết một đoạn văn, một bài luận", Hà Chi chia sẻ. 

1789012673925_279597697273872420_4678971641645993258_4d3944f43898907eeeebdeaadb2bf7e4
UNICEF cho biết, trẻ em đang tiếp nhận AI với tốc độ nhanh hơn ba lần so với người lớn.  (Ảnh: British Vietnamese International School)

Một nghiên cứu thực nghiệm được công bố trên Kỷ yếu của Viện Hàn lâm Khoa học Quốc gia Hoa Kỳ (PNAS) năm 2025 càng làm rõ mối lo này. Trong thử nghiệm với gần 1.000 học sinh trung học về môn Toán, nhóm được sử dụng phiên bản GPT-4 thông thường có kết quả làm bài tốt hơn 48% khi được phép sử dụng AI. Tuy nhiên, khi AI bị rút khỏi quá trình làm bài, nhóm này lại đạt kết quả thấp hơn 17% so với nhóm đối chứng. Trong khi đó, phiên bản AI được thiết kế như một gia sư, hướng học sinh đến việc tự suy nghĩ thay vì đưa đáp án trực tiếp, đã hạn chế đáng kể tác động tiêu cực này.

Như vậy, câu hỏi không còn đơn giản là “AI có tốt hay xấu với việc học?”, mà trở thành “AI được sử dụng theo cách nào và ở thời điểm nào trong quá trình học tập”?

Thế giới không có một câu trả lời duy nhất

Trước sự phổ biến nhanh chóng của AI, các hệ thống giáo dục đang lựa chọn những cách phản ứng khác nhau.

Tại New York City, chính quyền giáo dục công lập lựa chọn cách tiếp cận thận trọng hơn đối với AI tạo sinh. Trong năm học 2026-2027, thành phố áp dụng lệnh tạm dừng việc sử dụng AI tạo sinh hướng trực tiếp tới học sinh ở các lớp từ 2-K đến lớp 8. Với học sinh lớp 9-12, việc sử dụng AI được giới hạn trong những chương trình đã được phê duyệt và kiểm duyệt.

Điều này cho thấy New York không “cấm AI” theo nghĩa tuyệt đối. Hàng rào được đặt mạnh hơn ở nhóm học sinh nhỏ tuổi, trong khi học sinh lớn hơn vẫn có thể tiếp cận công nghệ trong những điều kiện nhất định.

1789012898427_279597697273872420_4678971641645993258_4670a8176a1811f8b3b411cd67843329
Một số hệ thống giáo dục trên thế giới đang dựng “hàng rào” với AI trong trường học theo độ tuổi, mục đích sử dụng và mức độ giám sát. (Ảnh: Ron Lach)

Trong khi đó, Trung Quốc lại đi theo hướng chủ động phổ cập giáo dục AI. Từ tháng 12/2024, Bộ Giáo dục Trung Quốc đã ban hành hướng dẫn tăng cường giáo dục AI trong các trường tiểu học và trung học, định hướng đưa nội dung AI vào chương trình thường xuyên. Ở những lớp tiểu học đầu cấp, trọng tâm là nhận biết và nâng cao nhận thức; các lớp lớn hơn đi vào hiểu và sử dụng AI; đến THPT, học sinh được hướng tới sáng tạo dự án và ứng dụng công nghệ nâng cao.

Đến tháng 4/2026, Trung Quốc tiếp tục thúc đẩy “Kế hoạch hành động AI + Giáo dục”, trong đó yêu cầu đẩy nhanh phổ cập giáo dục AI cho học sinh phổ thông, đưa giáo dục AI vào hệ thống chương trình địa phương và khuyến khích dạy AI liên môn. Mục tiêu được đặt ra không chỉ là sử dụng công cụ mà còn nâng cao hiểu biết về AI, tư duy đổi mới và khả năng giải quyết vấn đề phức tạp.

Những cách tiếp cận tưởng như đối lập này thực chất cùng hướng tới một bài toán, làm thế nào để công nghệ không làm tổn hại quá trình hình thành năng lực của trẻ.

Việt Nam chọn đưa AI vào trường học

Trong bối cảnh đó, Việt Nam đang lựa chọn một hướng đi chủ động hơn. Bộ GD-ĐT quyết định đưa giáo dục AI vào trường phổ thông thay vì chỉ tìm cách ngăn học sinh tiếp cận công nghệ.

Thực tế, việc giáo dục AI trong nhà trường đã được đặt ra từ trước. Từ tháng 2/2026, Bộ GD-ĐT bắt đầu thí điểm giáo dục AI tại các nhà trường với 3 phương án: tích hợp AI vào các môn học; dạy AI như một hoạt động độc lập; tổ chức các hoạt động trải nghiệm, câu lạc bộ. Kết quả thí điểm được xác định là căn cứ để triển khai giáo dục AI đại trà từ năm học 2026-2027. 

Sau giai đoạn thí điểm, ngày 18/8/2026, Bộ GD-ĐT ban hành Quyết định số 2422/QĐ-BGDĐT, quy định nội dung giáo dục AI được triển khai đại trà từ năm học 2026 - 2027. Trong đó, trường học phải lựa chọn công cụ phù hợp độ tuổi và hướng dẫn, giám sát học sinh sử dụng AI an toàn, có đạo đức, trách nhiệm. Phần nội dung cốt lõi được tổ chức thành các chuyên đề bắt buộc với thời lượng 12 tiết/lớp/năm học. Ngoài ra, các trường có thể triển khai nội dung mở rộng thông qua câu lạc bộ, dự án, hoạt động trải nghiệm, ngoại khóa hoặc nghiên cứu tùy điều kiện thực tế.

Thực tế này cũng cho thấy giáo dục AI không phải là một quyết định xuất hiện đột ngột, mà là vấn đề đã được đặt ra trong quá trình ngành giáo dục tìm cách thích ứng với sự phát triển nhanh của công nghệ.

1789012421533_279597697273872420_4678971641645993258_4f6a1b278bc7cfb6d729fbd7d53ecf3d
Giáo dục AI hướng tới trang bị cho học sinh kiến thức, kỹ năng cần thiết để hiểu, sử dụng và tương tác an toàn, có trách nhiệm với AI. (Ảnh: Nguyễn Trường/ Báo Lao Động)

Chia sẻ tại buổi hướng dẫn triển khai nội dung giáo dục trí tuệ nhân tạo cho học sinh phổ thông diễn ra ngày 27/2/2026 ở Trường Phổ thông Song ngữ liên cấp Wellspring GS Lê Anh Vinh, Viện trưởng Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam (Bộ GD&ĐT) cho biết, cách đây 3 năm, khi Chat GPT bắt đầu được nhắc đến trong các hội thảo chuyên môn, đã có những ý kiến đề xuất cấm học sinh sử dụng. “Nhưng thực tế giờ đây chúng ta không thể cấm, thậm chí với giáo dục, AI lại rất cần thiết và cần phải giáo dục sớm cho học sinh về AI trong học tập”, ông nói.

Theo GS Lê Anh Vinh, AI không còn là một khái niệm xa vời mà đã hiện diện trong những hoạt động đời thường, từ việc nhận diện gương mặt để mở khóa điện thoại đến nhiều hình thức tương tác khác trong cuộc sống. Khi AI ngày càng trở thành một phần của môi trường sống, ông cho rằng việc trang bị cho học sinh những kiến thức, kỹ năng cơ bản về trí tuệ nhân tạo để các em sớm trở thành những công dân số là điều cần thiết. 

Từ năm học 2026 - 2027, định hướng này được cụ thể hóa trong Khung nội dung giáo dục trí tuệ nhân tạo cho học sinh phổ thông. Đáng chú ý, khung giáo dục AI không chỉ tập trung vào thao tác với các công cụ. Bốn mạch nội dung được xác định gồm tư duy lấy con người làm trung tâm; đạo đức AI; kỹ thuật và ứng dụng AI; thiết kế hệ thống AI.

Có thể thấy, với quyết định của Bộ Giáo dục và Đào tạo, “dạy AI” không đồng nghĩa với việc mở cửa không giới hạn cho học sinh sử dụng chatbot. Chính sách đang đặt song song hai vế là trang bị năng lực AI và xây dựng những điều kiện để việc sử dụng diễn ra an toàn, phù hợp với lứa tuổi.

Vì sao Việt Nam chọn “dạy cách dùng” thay vì chỉ “cấm”?

Theo chuyên gia giáo dục Tô Thụy Diễm Quyên, việc cấm AI hoàn toàn vào thời điểm hiện nay khó trở thành một giải pháp thực tế. Học sinh có thể không sử dụng AI trong lớp học nhưng vẫn có thể tiếp cận công nghệ ở nhà, trên điện thoại hoặc máy tính cá nhân. Vì vậy, vấn đề không chỉ là làm thế nào để trẻ tránh xa AI, mà là làm thế nào để các em biết sử dụng công nghệ đúng cách.

“Không thể dựng một bức tường để ngăn trẻ với AI. Điều giáo dục cần làm là tạo cho trẻ một ‘hệ miễn dịch’ đủ tốt để sống trong môi trường có AI”, chuyên gia Diễm Quyên nhận định.

tô thụy diễm quyên
Tô Thụy Diễm Quyên - CEO InnEdu, Chuyên gia Giáo dục Sáng tạo Xuất sắc của Microsoft. (Ảnh: NVCC)

Ở một góc nhìn khác, chuyên gia giáo dục Ngô Huy Tâm cho rằng cần đặt lựa chọn của Việt Nam trong chính bối cảnh phát triển của hệ thống giáo dục và hạ tầng công nghệ trong nước. Theo ông, Việt Nam và các nước phát triển không hoàn toàn đứng trên cùng một nền tảng khi tiếp cận AI.

Ông dẫn trường hợp New York, nơi AI tạo sinh đang được hạn chế đối với học sinh từ cấp THCS trở xuống. Theo ông, tại những hệ thống giáo dục đã phổ cập công nghệ số, thiết bị điện tử và các hình thức dạy học trên nền tảng công nghệ từ lâu, AI tạo sinh được đưa vào một môi trường vốn đã có mức độ số hóa cao. Trong khi đó, Việt Nam vẫn đang trong quá trình chuyển đổi số, hạ tầng công nghệ giáo dục và nguồn lực triển khai giữa các địa phương còn chênh lệch.

“Việt Nam cũng như các nước đang phát triển khác có đặc thù khác với các nước phát triển. Vậy nên cách tiếp cận AI cũng khác nhau rất nhiều”, ông Tâm nhận định.

1785348145346_6473103658580553232_6473103658580553232_47e0de8064695910059498453868eca3
Chuyên gia giáo dục Ngô Huy Tâm. (Ảnh: NVCC)

Theo chuyên gia Ngô Huy Tâm, AI tạo sinh là công nghệ có năng lực ngày càng mạnh nhưng vẫn khó kiểm soát hoàn toàn đầu ra. Trong khi đó, những nghiên cứu về tác động của việc sử dụng công nghệ quá mức đối với trẻ em cũng ngày càng được quan tâm. Đây là những yếu tố khiến một số hệ thống giáo dục phát triển thận trọng hơn với AI tạo sinh trong nhà trường.

“Việc dạy AI ở Việt Nam cần mang tính giáo dục về AI, cách nhìn nhận về AI, chứ không đào tạo sử dụng AI”, ông Tâm nhấn mạnh, đồng thời cho rằng việc đưa giáo dục AI vào phổ thông ở thời điểm hiện nay chủ yếu mang tính giới thiệu, nâng cao nhận thức và hình thành hiểu biết nền tảng, chứ chưa phải trao quyền sử dụng AI tạo sinh rộng rãi cho học sinh.

Cách tiếp cận này cũng tương đồng với định hướng của UNESCO. Trong Khung năng lực AI dành cho học sinh công bố năm 2024, UNESCO xác định mục tiêu là giúp học sinh trở thành những người sử dụng AI có trách nhiệm và những chủ thể đồng sáng tạo với AI. Khung năng lực gồm 12 năng lực thuộc 4 nhóm: tư duy lấy con người làm trung tâm, đạo đức AI, kỹ thuật và ứng dụng AI, thiết kế hệ thống AI; được phát triển theo ba mức độ: Hiểu - Áp dụng - Sáng tạo.

Từ đó, giáo dục AI không nhất thiết bắt đầu bằng việc dạy trẻ sử dụng thật nhiều công cụ. Quan trọng hơn là giúp các em hiểu AI có thể làm gì, giới hạn ở đâu, vì sao một câu trả lời có thể rất thuyết phục nhưng vẫn sai, đồng thời biết kiểm chứng thông tin và bảo vệ dữ liệu cá nhân.

Như vậy, Việt Nam không đơn thuần lựa chọn giữa “cấm” và “cho dùng”, mà đang đứng trước yêu cầu xây dựng năng lực để học sinh hiểu, đánh giá và sử dụng AI phù hợp với độ tuổi, mục đích học tập và điều kiện thực tế.