Bộ Y tế đặt mục tiêu giảm tử vong mẹ, trẻ sơ sinh: Ưu tiên chăm sóc liên tục từ thai kỳ đến sau sinh
Giảm tỷ lệ tử vong mẹ xuống dưới 40/100.000 trẻ đẻ sống, tử vong sơ sinh xuống dưới 8‰, đồng thời nâng cao chất lượng chăm sóc phụ nữ mang thai và trẻ nhỏ là những mục tiêu trọng tâm trong Kế hoạch hành động về chăm sóc sức khỏe bà mẹ, trẻ sơ sinh giai đoạn 2026-2030 vừa được Bộ Y tế phê duyệt.
Giảm tử vong mẹ, trẻ sơ sinh, thu hẹp khoảng cách chăm sóc y tế
Bộ Y tế vừa ban hành Quyết định số 3373/QĐ-BYT ngày 31.10.2026 phê duyệt Kế hoạch hành động về chăm sóc sức khỏe bà mẹ, trẻ sơ sinh giai đoạn 2026-2030, hướng tới cải thiện sức khỏe phụ nữ và trẻ nhỏ, giảm tử vong mẹ, tử vong sơ sinh, đồng thời thu hẹp chênh lệch về khả năng tiếp cận và chất lượng dịch vụ y tế giữa các vùng miền.
Theo kế hoạch, đến năm 2030, tỷ số tử vong mẹ phải giảm xuống dưới 40/100.000 trẻ đẻ sống; riêng tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, mục tiêu là dưới 60/100.000 trẻ đẻ sống. Tỷ suất tử vong sơ sinh được đặt mục tiêu giảm xuống dưới 8‰ trên phạm vi cả nước và dưới 12‰ tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi.
Bên cạnh đó, Bộ Y tế đặt mục tiêu khống chế tỷ lệ mổ lấy thai dưới 40%; ít nhất 90% phụ nữ mang thai được khám thai từ 4 lần trở lên, trong đó khu vực miền núi và vùng đồng bào dân tộc thiểu số đạt tối thiểu 85%. Tỷ lệ phụ nữ sinh con tại cơ sở y tế phải đạt trên 98% trên cả nước và tối thiểu 95% tại các địa bàn khó khăn.
Một chỉ tiêu đáng chú ý khác là tăng tỷ lệ bà mẹ và trẻ sơ sinh được chăm sóc tại nhà trong tuần đầu sau sinh lên tối thiểu 75%; riêng vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi đạt ít nhất 60%. Trong vòng 42 ngày sau sinh, tỷ lệ này cần đạt tối thiểu 85% trên toàn quốc và 80% tại các khu vực miền núi, dân tộc thiểu số.
Đối với trẻ sơ sinh, kế hoạch đặt mục tiêu khống chế tỷ lệ trẻ nhẹ cân dưới 2.500g ở mức dưới 5%, riêng vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi dưới 7,5%. Tỷ lệ trẻ được thực hiện quy trình chăm sóc sơ sinh thiết yếu sớm (EENC) đạt tối thiểu 90%; tỷ lệ trẻ được tiêm vaccine viêm gan B trong 24 giờ đầu sau sinh đạt ít nhất 90% và tỷ lệ được sử dụng vitamin K1 đạt tối thiểu 98%.
Nâng cao chất lượng chăm sóc trước, trong và sau sinh
Một trong những trọng tâm của kế hoạch là nâng cao chất lượng dịch vụ chăm sóc sức khỏe bà mẹ theo hướng liên tục, lấy người bệnh làm trung tâm và bảo đảm an toàn cho cả mẹ và trẻ.
Theo đó, phụ nữ mang thai cần được quản lý thai nghén, sàng lọc và phân tầng nguy cơ để phát hiện sớm những bất thường, kịp thời chuyển đến cơ sở y tế phù hợp. Đặc biệt, ngành y tế chú trọng phát hiện các bệnh lý có thể ảnh hưởng nghiêm trọng đến thai kỳ như tăng huyết áp, tiền sản giật, đái tháo đường thai kỳ, bệnh không lây nhiễm và các bệnh lý nền.
Kế hoạch cũng yêu cầu cập nhật hướng dẫn chuyên môn về chăm sóc trước sinh, trong sinh và sau sinh; tăng cường dự phòng sinh non và các biến chứng liên quan. Việc ứng dụng các mô hình chăm sóc lấy người bệnh làm trung tâm, tôn trọng quyền của phụ nữ và trẻ em được xác định là yêu cầu quan trọng nhằm nâng cao trải nghiệm và chất lượng dịch vụ y tế.
Ở giai đoạn sau sinh, kế hoạch chú trọng củng cố dịch vụ chăm sóc sơ sinh thiết yếu sớm, hỗ trợ nuôi con bằng sữa mẹ, chăm sóc trẻ bằng phương pháp Kangaroo, đặc biệt đối với trẻ sinh non, nhẹ cân và trẻ mắc bệnh lý. Đây là những can thiệp quan trọng giúp trẻ thích nghi với môi trường bên ngoài tử cung, tăng cường khả năng chăm sóc và bảo vệ sức khỏe trong giai đoạn đầu đời.
Bên cạnh sức khỏe thể chất, sức khỏe tinh thần của phụ nữ cũng được quan tâm. Các trạm y tế xã được định hướng nâng cao năng lực sàng lọc, phát hiện sớm dấu hiệu trầm cảm ở phụ nữ mang thai và bà mẹ sau sinh; đồng thời lồng ghép chăm sóc sức khỏe tâm thần vào hoạt động chăm sóc sau sinh tại nhà.
Tăng điểm tựa y tế cho mẹ và bé ở vùng khó khăn
Thu hẹp bất bình đẳng trong chăm sóc sức khỏe bà mẹ, trẻ sơ sinh là một trong những định hướng xuyên suốt của kế hoạch giai đoạn 2026-2030. Phạm vi triển khai trên toàn quốc, trong đó ưu tiên vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi, biên giới và hải đảo.
Để thực hiện mục tiêu này, Bộ Y tế chú trọng phát triển đội ngũ nhân lực chuyên ngành sản - nhi, đặc biệt là bác sĩ, hộ sinh, điều dưỡng làm việc tại các địa bàn khó khăn. Các chính sách thu hút, đào tạo, sử dụng và giữ chân nhân viên y tế được triển khai đồng bộ, gắn với nhu cầu thực tế của từng địa phương.
Cùng với nhân lực, nguồn lực tài chính cũng được định hướng phân bổ theo kết quả đầu ra và mức độ khó khăn của từng địa phương. Những nơi có tỷ lệ tử vong mẹ, tử vong sơ sinh cao, tỷ lệ sinh con tại nhà lớn sẽ được ưu tiên nguồn lực nhằm cải thiện khả năng tiếp cận dịch vụ và nâng cao chất lượng chăm sóc.
Công tác truyền thông cũng được đổi mới theo hướng lấy người dân làm trung tâm, chuyển từ cung cấp thông tin thụ động sang tư vấn, giáo dục sức khỏe chủ động từ giai đoạn trước sinh, trong sinh đến sau sinh.
Bên cạnh đó, việc ứng dụng công nghệ số được đẩy mạnh thông qua sổ sức khỏe điện tử, hồ sơ sức khỏe điện tử và các nền tảng theo dõi sức khỏe bà mẹ, trẻ em.
Với định hướng chăm sóc liên tục, tăng cường năng lực y tế cơ sở và ưu tiên những nhóm dễ bị tổn thương, Kế hoạch hành động về chăm sóc sức khỏe bà mẹ, trẻ sơ sinh giai đoạn 2026-2030 hướng tới mục tiêu để phụ nữ mang thai và trẻ nhỏ được tiếp cận dịch vụ y tế an toàn, chất lượng, kịp thời, bất kể nơi sinh sống hay điều kiện kinh tế.





