22:42 08/08/2026

Chăm sóc trẻ em mồ côi: Khi nuôi dưỡng thôi chưa đủ

Ngày 8/8, Hội Bảo vệ Quyền trẻ em TP.HCM phối hợp với Quỹ Khởi Sự Từ Tâm và Tổ chức Save the Children tổ chức Hội thảo “Từ mô hình đến chất lượng chăm sóc trẻ em mồ côi vì sự phát triển toàn diện”.

Hội thảo có sự tham dự của ông Đặng Hoa Nam - Nguyên Cục trưởng Cục Trẻ em, Phó chủ tịch Hội Bảo vệ Quyền trẻ em Việt Nam cùng đông đảo chuyên gia, nhà hoạch định chính sách, tổ chức xã hội...

Tại đây, các đại biểu đã chia sẻ nhiều vấn đề liên quan đến chăm sóc trẻ em mồ côi trên địa bàn TP.HCM. Các đại biểu cho rằng, chăm sóc trẻ em mồ côi không thể được đánh giá chỉ bằng việc trẻ có nơi ở, được ăn uống, học hành hay được bảo đảm các nhu cầu cơ bản. Điều quan trọng hơn là môi trường ấy có thực sự đáp ứng nhu cầu riêng của từng trẻ, bảo đảm an toàn, ổn định về cảm xúc và tạo cơ hội để trẻ phát triển hay không.

Gia đình thôi vẫn chưa đủ

Sau khi sáp nhập với Bình Dương và Bà Rịa – Vũng Tàu, TP.HCM có hơn 2.630.000 trẻ em dưới 16 tuổi. Trong bối cảnh đó, chăm sóc trẻ em mồ côi không chỉ dừng ở việc đáp ứng các nhu cầu thiết yếu về nơi ở, dinh dưỡng, học tập và chăm sóc sức khỏe, mà còn phải đảm bảo sự phát triển toàn diện về thể chất, trí tuệ, tinh thần, cảm xúc, đạo đức và các mối quan hệ xã hội.

Một môi trường chăm sóc an toàn, ổn định, có sự gắn kết và tôn trọng quyền trẻ em vì thế trở thành nền tảng quan trọng để các em phát triển.

TS. Trần Thị Anh Thư, Phó Viện trưởng Viện kinh tế và công nghệ vị nhân sinh, phụ trách mảng phát triển tri thức thiện nguyện, Quỹ Khởi Sự Từ Tâm, cho hay, hệ thống chính sách chăm sóc trẻ em tại Việt Nam đã có sự chuyển đổi theo hướng tiếp cận dựa trên quyền, lấy lợi ích tốt nhất và sự phát triển toàn diện của trẻ làm trung tâm. Các hình thức chăm sóc bởi người thân thích và chăm sóc thay thế dựa vào gia đình ngày càng được ưu tiên, trong khi việc đưa trẻ vào cơ sở trợ giúp xã hội được xem là giải pháp sau cùng khi không còn lựa chọn nào khác phù hợp.

IMG_2873(1)
TS. Trần Thị Anh Thư, Phó Viện trưởng Viện kinh tế và công nghệ vị nhân sinh, phụ trách mảng phát triển tri thức thiện nguyện, Quỹ Từ Tâm chia sẻ tại hội thảo.

Tuy nhiên, theo TS. Thư, từ định hướng chính sách đến chất lượng chăm sóc trong thực tế vẫn còn những khoảng cách đáng kể cần được nhận diện và giải quyết.

Việc trẻ được đặt vào một mô hình chăm sóc nhất định không đồng nghĩa mọi nhu cầu của trẻ đã được đáp ứng. Chất lượng chăm sóc còn phụ thuộc vào hoàn cảnh, đặc điểm và nhu cầu riêng của từng trẻ; năng lực, sự ổn định của người chăm sóc; chất lượng mối quan hệ chăm sóc; cũng như khả năng tiếp cận các dịch vụ hỗ trợ.

“Vấn đề đặt ra không chỉ là trẻ em mồ côi đang được chăm sóc trong mô hình nào, mà quan trọng hơn là các em đang được chăm sóc như thế nào và kết quả chăm sóc đó có thực sự bảo đảm quyền, lợi ích tốt nhất và cơ hội phát triển toàn diện của trẻ hay không?”, TS. Thư nhấn mạnh.

Theo TS. Thư, qua nghiên cứu về các mô hình chăm sóc trẻ em mồ côi giai đoạn 2025–2026, nhóm nghiên cứu khảo sát 264 cặp trẻ em mồ côi và người chăm sóc tại hai địa bàn là TP.HCM và Đồng Nai.

Qua đó nhóm nghiên cứu có những phát hiện quan trọng. Trong đó gia đình vẫn là nền tảng quan trọng trong chăm sóc trẻ em mồ côi, nhưng việc trẻ được sống trong gia đình không tự động đồng nghĩa với chất lượng chăm sóc cao.

Một trong những lợi thế rõ nhất của mô hình gia đình là tỷ lệ người chăm sóc trên số trẻ. Tỷ lệ này ở mô hình gia đình là 1 người chăm sóc 2 trẻ, thấp hơn đáng kể so với cơ sở công lập (1/15), cơ sở tư nhân (1/17) và cơ sở tôn giáo (1/30).

Trẻ được chăm sóc trong mô hình gia đình cũng có các chỉ số phát triển về thể chất như chiều cao, cân nặng và tỷ lệ duy trì tính liên tục trong học tập cao hơn so với trẻ ở các mô hình chăm sóc tập trung.

Những kết quả này cho thấy vai trò đặc biệt của môi trường gia đình trong việc duy trì sự gắn bó, ổn định và các mối quan hệ chăm sóc mang tính cá nhân hóa.

Tuy nhiên, gia đình cũng đối mặt với những thách thức không nhỏ. Theo TS. Thư, chất lượng chăm sóc tại gia đình có thể bị ảnh hưởng bởi tình trạng “quá tải kép” của người chăm sóc: vừa phải bảo đảm sinh kế, vừa thiếu kiến thức về tâm lý trẻ em và thiếu mạng lưới hỗ trợ xã hội.

IMG_2899
Cấc chuyên gia, tổ chức xã hội tham dự hội thảo.

Nếu không được hỗ trợ kịp thời, người chăm sóc dễ rơi vào tình trạng quá tải, kiệt sức; trong khi trẻ dù vẫn sống trong gia đình nhưng có thể thiếu điểm tựa về cảm xúc và các dịch vụ hỗ trợ cần thiết.

Do đó, chính sách không nên chỉ coi gia đình là lựa chọn mặc định mà phải đồng thời bảo đảm gia đình có đủ điều kiện và năng lực để chăm sóc trẻ.

“Chất lượng chăm sóc không phải là trách nhiệm của riêng gia đình, của một cơ sở trợ giúp xã hội hay của một tổ chức nào. Chất lượng chăm sóc phải là kết quả tổng hòa của cả một hệ thống chính sách hoàn chỉnh, dịch vụ chuyên nghiệp và sự phối hợp đồng bộ giữa nhiều chủ thể cùng hướng tới lợi ích tốt nhất của trẻ em”, TS. Thư chia sẻ.

Đánh giá từng trẻ để chọn mô hình phù hợp

Ông Phạm Đình Nghinh, Phó Chủ tịch Thường trực Hội Bảo vệ Quyền trẻ em TP.HCM, cho biết trẻ em mồ côi có hoàn cảnh và nhu cầu hỗ trợ rất đa dạng.

IMG_2881
Ông Phạm Đình Nghinh, Phó Chủ tịch Thường trực Hội Bảo vệ Quyền trẻ em TP.HCM chia sẻ về nhu cầu chăm sóc trẻ mồ côi.

Có trẻ vẫn còn người thân nhưng gia đình gặp khó khăn về kinh tế, hạn chế về kỹ năng chăm sóc hoặc khả năng tiếp cận các dịch vụ hỗ trợ. Trong khi đó, một số trẻ cần được hỗ trợ chuyên sâu về tâm lý, giáo dục, sức khỏe, phục hồi tổn thương hoặc bảo vệ trước các nguy cơ bị xâm hại, bỏ rơi, bóc lột.

Vì vậy, việc lựa chọn hình thức chăm sóc cần căn cứ trên sự đánh giá toàn diện về hoàn cảnh, nhu cầu và lợi ích tốt nhất của từng trẻ.

“Cần ưu tiên duy trì môi trường sống tại gia đình, cộng đồng khi điều kiện cho phép, đồng thời bảo đảm các hình thức chăm sóc thay thế phù hợp đối với những trường hợp cần thiết”, ông Nghinh cho biết.

Theo ông, hiện nay công tác chăm sóc trẻ em mồ côi được thực hiện thông qua ba nhóm mô hình chủ yếu: Chăm sóc dựa vào gia đình và cộng đồng; chăm sóc tại các cơ sở trợ giúp xã hội công lập; và chăm sóc tại các cơ sở ngoài công lập.

Mỗi mô hình có vai trò riêng nhưng cũng đặt ra những yêu cầu và thách thức về nguồn lực, chuyên môn và cơ chế phối hợp thể trong hệ thống bảo vệ trẻ em.

Chăm sóc dựa vào gia đình và cộng đồng có ưu thế trong việc giúp trẻ duy trì sự gắn kết tình cảm, môi trường sống quen thuộc và các mối quan hệ xã hội tự nhiên. Tuy nhiên, nhiều gia đình vẫn gặp khó khăn về kinh tế, kỹ năng chăm sóc, hỗ trợ tâm lý và khả năng tiếp cận dịch vụ công tác xã hội.

Vì vậy, sự tham gia của các tổ chức xã hội có vai trò quan trọng trong phát hiện trẻ cần hỗ trợ, đánh giá nhu cầu, kết nối dịch vụ, hỗ trợ gia đình và hình thành mạng lưới bảo vệ trẻ em tại cộng đồng.

Đối với các cơ sở trợ giúp xã hội công lập, đây vẫn là nơi quan trọng trong tiếp nhận và chăm sóc thay thế đối với những trẻ không còn điều kiện sống trong môi trường gia đình. Tuy nhiên, trước yêu cầu đổi mới hệ thống bảo vệ trẻ em, các cơ sở cần từng bước chuyển từ mô hình chăm sóc tập trung sang cung cấp dịch vụ hỗ trợ chuyên môn, quản lý trường hợp và kết nối trẻ với gia đình, cộng đồng.

Trong khi đó, các mái ấm, nhà mở và cơ sở chăm sóc ngoài công lập đã góp phần mở rộng mạng lưới an sinh và huy động nguồn lực xã hội. Dù vậy, chất lượng giữa các cơ sở vẫn chưa đồng đều. Một số nơi còn hạn chế về năng lực quản lý, chuyên môn chăm sóc, nguồn lực tài chính và khả năng kết nối với hệ thống bảo vệ trẻ em.

An toàn phải là tiêu chuẩn cốt lõi

Từ thực tế hoạt động của các mô hình chăm sóc, yêu cầu về một môi trường thay thế an toàn ngày càng được đặt ra rõ hơn.

Đại đức Thích An Đạt, Phó Chánh Văn phòng Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam, cho hay Phật giáo TP.HCM đã hình thành mạng lưới các cơ sở bảo trợ xã hội với nhiều hoạt động như: Chăm sóc nội trú, bán trú, giáo dục, đào tạo nghề, chăm sóc y tế và tâm lý, nâng cao năng lực nhân sự.

Theo ông, một môi trường thay thế an toàn trước hết phải đảm bảo trẻ em được sống trong không gian sạch sẽ, an toàn, có khu vực sinh hoạt, học tập và vui chơi tách biệt phù hợp với lứa tuổi và giới tính. Chế độ dinh dưỡng phải được đảm bảo khoa học, đặc biệt lưu ý không bắt buộc trẻ em phải ăn chay trường. Chăm sóc y tế dự phòng và định kỳ phải được đưa vào nội quy bắt buộc.

IMG_2930
Hội thảo có sự tham dự của nhiều chuyên gia, nhà hoạch định chính sách, tổ chức xã hội.

Bên cạnh đó an toàn về thế chất, an toàn về mặt cảm xúc cũng là yếu tố không thể thiếu. Trẻ cần được lắng nghe, tôn trọng và yêu thương không phán xét. Ứng dụng các phương pháp thực hành chánh niệm của phật giáo kết hợp với các liệu pháp tham vấn tâm lý hiện đại giúp trẻ quản lý cảm xúc và phục hồi sang chấn. Đặc biệt, phòng ngừa xâm hại, bạo lực và bỏ bê phải trở thành tiêu chuẩn bắt buộc tại các cơ sở chăm sóc.

Theo Đại đức Thích An Đạt, tuyệt đối không sử dụng bạo lực trong chăm sóc, giáo dục trẻ; đồng thời cần thiết lập các quy định rõ ràng nhằm phòng ngừa xâm hại tình dục và bảo vệ quyền riêng tư của trẻ.

Khu vực ngủ nghỉ cần được tổ chức phù hợp; việc tiếp xúc giữa trẻ với người chăm sóc, khách đến thăm và tình nguyện viên phải được kiểm soát. Những người bên ngoài không được tự ý chụp ảnh, quay phim và đưa hình ảnh của trẻ lên mạng xã hội nếu chưa được phép, đặc biệt không được sử dụng hình ảnh trẻ để phục vụ mục đích trục lợi.

Một yêu cầu quan trọng khác là phải tạo cho trẻ khả năng tự bảo vệ mình. Trẻ cần được hướng dẫn nhận diện nguy cơ, biết tìm kiếm sự giúp đỡ và có kênh phản ánh an toàn khi xảy ra vấn đề.

“Trẻ em phải được hướng dẫn cách tự bảo vệ mình. Cơ sở cần có kênh tiếp nhận thông tin như đường dây nóng, hòm thư góp ý hoặc một người đại diện độc lập để trẻ có thể báo cáo các hành vi bạo hành, bóc lột sức lao động hoặc bỏ bê”, ông chia sẻ.

Từ thực tiễn trên cho thấy, chăm sóc trẻ em mồ côi không thể được nhìn nhận như một hoạt động riêng lẻ của từng gia đình, mái ấm hay cơ sở trợ giúp xã hội. Điều cần thiết là cần có một hệ thống liên kết giữa Nhà nước, gia đình, cộng đồng, cơ sở dịch vụ và các tổ chức xã hội. Trong đó, mỗi trẻ cần được đánh giá về hoàn cảnh, nhu cầu và mức độ tổn thương để lựa chọn hình thức chăm sóc phù hợp.