17:11 11/08/2026

Gỡ “điểm nghẽn” để Chương trình Sức khỏe học đường đi vào từng lớp học

Từ thiếu nhân viên y tế, bếp ăn và trang thiết bị đến chênh lệch mức chi cho bữa ăn giữa các địa phương, Chương trình Sức khỏe học đường đang đứng trước nhiều bài toán cần giải quyết khi bước vào giai đoạn 2026-2035. Các chuyên gia cho rằng bên cạnh chính sách, cần một cơ chế đủ mạnh để bảo đảm nguồn lực, chuẩn dịch vụ và khả năng triển khai phù hợp với từng địa bàn.

Tại Hội thảo “Đồng hành – Kiến tạo tương lai: Vì một Việt Nam khỏe mạnh” diễn ra ngày 11/8, tọa đàm “Truyền thông sức khỏe học đường và huy động nguồn lực xã hội: Từ nhận thức đến hành động” đã được tổ chức.

Tọa đàm tập trung nhận diện những thách thức, khoảng trống trong triển khai công tác sức khỏe học đường hiện nay; phân tích yêu cầu chuyển hóa các chính sách quốc gia thành những hoạt động cụ thể, phù hợp tại từng địa phương. Bên cạnh đó, các đại biểu cũng thảo luận về vai trò của dữ liệu, công cụ quản lý trong nâng cao hiệu quả triển khai, đồng thời đề xuất cơ chế phối hợp và huy động nguồn lực xã hội theo hướng thiết thực, hiệu quả và bền vững.

Tọa đàm có sự tham dự của ông Nguyễn Văn Dĩnh - Phó Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo Thanh Hóa; bà Lê Anh Lan - chuyên gia giáo dục của UNICEF Việt Nam; PGS.TS.BS Bùi Thị Nhung - Phó Chủ tịch Hội Tiết chế Dinh dưỡng, nguyên Trưởng khoa Dinh dưỡng học đường và Ngành nghề, Viện Dinh dưỡng Quốc gia; bà Nguyễn Quỳnh Vân - Phó Viện trưởng Viện Dinh dưỡng TH.

DSC06649
Toàn cảnh toạ đàm.

Sức khỏe học đường: Điểm nghẽn không nằm ở chủ trương, mà ở khâu thực thi

Thanh Hóa là địa phương có quy mô giáo dục lớn, địa bàn rộng và điều kiện kinh tế - xã hội đa dạng. Theo ông Nguyễn Văn Dĩnh - Phó Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo Thanh Hóa, toàn tỉnh hiện có gần 2.000 cơ sở giáo dục từ mầm non đến phổ thông, với gần 1 triệu trẻ em, học sinh. Địa bàn giáo dục của Thanh Hóa trải rộng từ khu vực miền núi, vùng khó khăn đến đồng bằng và ven biển, đặt ra không ít yêu cầu trong việc bảo đảm cơ hội tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe học đường một cách đồng đều.

Theo ông Nguyễn Văn Dĩnh, trong quá trình triển khai Chương trình Sức khỏe học đường, Thanh Hóa đang tập trung giải quyết ba vấn đề lớn.

Thứ nhất là nhân lực, đặc biệt là đội ngũ nhân viên y tế trường học. Hiện nay, tỉnh còn thiếu nhân viên y tế chuyên trách có trình độ chuyên môn, trong khi đây là lực lượng giữ vai trò quan trọng trong công tác chăm sóc, theo dõi sức khỏe học sinh ngay tại trường.

Thứ hai là cơ sở vật chất và trang thiết bị. Nhu cầu không chỉ dừng ở việc có phòng y tế, tủ thuốc mà còn phải bảo đảm các thiết bị y tế thiết yếu để đáp ứng yêu cầu chăm sóc sức khỏe học sinh.

Thứ ba là bảo đảm việc khám, sàng lọc sức khỏe định kỳ cho học sinh. Trong năm học 2024-2025, Thanh Hóa đã thực hiện khám sàng lọc định kỳ cho 100% học sinh theo các quy định hiện hành.

Đặc thù địa lý cũng khiến bài toán sức khỏe học đường tại Thanh Hóa trở nên phức tạp hơn. Tỉnh có gần 200 km đường biên giới giáp Lào, với gần 40 cơ sở giáo dục từ mầm non đến phổ thông nằm tại khu vực biên giới. Theo ông Dĩnh, việc bảo đảm khả năng tiếp cận chương trình giữa các vùng miền vì vậy cần được đặt trong nhóm ưu tiên, đặc biệt về nhân lực, cơ sở vật chất và trang thiết bị thiết yếu.

“Đây không chỉ là vấn đề của Thanh Hóa mà còn là vấn đề cấp thiết ở nhiều địa phương khác, nhất là về nguồn nhân lực, cơ sở vật chất và trang thiết bị. Chúng tôi rất hoan nghênh mục tiêu phấn đấu để 100% học sinh được khám sàng lọc và mong muốn những kết quả này có thể được lan tỏa tới các địa phương khác”, ông Dĩnh chia sẻ.

z8140057225877_4d5dfd9eac841d2b0f1a224f65616dc7
Theo ông Nguyễn Văn Dĩnh - Phó Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo Thanh Hóa, sự khác biệt về điều kiện kinh tế - xã hội giữa các vùng miền là một trong những thách thức lớn khi triển khai các mục tiêu sức khỏe học đường trên diện rộng.

Thanh Hóa có nhiều trường nội trú, bán trú, đặc biệt tại khu vực biên giới. Tỉnh có 16 xã biên giới giáp với hai tỉnh của Lào, nơi điều kiện kinh tế - xã hội còn nhiều khó khăn. Vì vậy, việc bảo đảm dinh dưỡng cho học sinh tại những khu vực này vẫn phụ thuộc đáng kể vào các chính sách hỗ trợ của Nhà nước.

Theo ông Dĩnh, Nghị định 188 quy định về chế độ, chính sách đối với học sinh phổ thông tại các trường nội trú, bán trú đã đưa ra những mức hỗ trợ cụ thể. Đối với học sinh nội trú, mức hỗ trợ là 1,17 triệu đồng/học sinh/tháng và 15 kg gạo; học sinh bán trú được hỗ trợ 450.000 đồng/học sinh/tháng và 8 kg gạo. Tuy nhiên, theo ông, đây mới là mức hỗ trợ tối thiểu. Nếu địa phương có thêm nguồn lực, việc bổ sung kinh phí để nâng cao chất lượng bữa ăn cho học sinh là điều cần được tính đến.

“Đối với vùng biên giới, vùng sâu, vùng xa và những nơi có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, việc bảo đảm bữa ăn học đường hiện nay chủ yếu vẫn dựa vào chính sách hỗ trợ của Nhà nước. Khả năng xã hội hóa, đóng góp từ các tổ chức xã hội và doanh nghiệp tại những khu vực này còn hạn chế”, ông Dĩnh cho biết.

Ông Dĩnh phân tích, vấn đề không phải các địa phương chưa quan tâm đến dinh dưỡng học đường mà ở những nơi còn khó khăn, nguồn lực của gia đình và địa phương chưa đủ để nâng cao chất lượng bữa ăn. Vì vậy, sự chung tay của toàn xã hội là cần thiết để thu hẹp khoảng cách về điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng học sinh giữa các vùng miền.

Bên cạnh vấn đề nguồn lực, ông Nguyễn Văn Dĩnh cũng lưu ý đến đội ngũ tham gia thực hiện công tác sức khỏe học đường. Theo ông, Chương trình Sức khỏe học đường giai đoạn 2026-2035 không chỉ đặt vấn đề về nhân viên y tế trường học mà còn đề cập đến đội ngũ nhân viên bếp ăn học đường.

“Đây không chỉ là câu chuyện của riêng nhân viên y tế trường học mà cần một đội ngũ tham gia ở nhiều khâu, trong đó có nhân viên bếp ăn học đường. Đây cũng là lực lượng được đề cập trong Quyết định 973 của Chính phủ”, ông Dĩnh nhấn mạnh.

Từ góc nhìn này, để các mục tiêu của Chương trình Sức khỏe học đường thực sự trở thành hoạt động thường xuyên tại nhà trường, cần đồng thời giải quyết bài toán về chính sách, nguồn lực, nhân lực và sự đồng hành của toàn xã hội, đặc biệt tại những địa bàn còn nhiều khó khăn.

ba-nguyen-quynh-van-2
Theo bà Nguyễn Quỳnh Vân - Viện phó Viện Dinh dưỡng TH, hiện vẫn tồn tại ba điểm nghẽn lớn trong việc đưa các chương trình dinh dưỡng học đường vào thực tế.

Từ thực tiễn triển khai các chương trình liên quan đến trẻ em, bà Nguyễn Quỳnh Vân - Viện phó Viện Dinh dưỡng TH cho rằng, hiện vẫn tồn tại ba điểm nghẽn lớn trong việc đưa các chương trình dinh dưỡng học đường vào thực tế. Đó là nguồn lực chưa đồng đều; năng lực tổ chức, triển khai và thực hành chưa đồng nhất; đồng thời thiếu tính liên tục, bền vững và sự phối hợp chặt chẽ giữa các bên.

Theo bà Vân, vấn đề lớn nhất không nằm ở chủ trương mà nằm ở quá trình chuyển hóa chính sách thành hoạt động cụ thể tại từng địa phương, từng nhà trường. Thực tế này được thể hiện rõ qua quá trình triển khai mô hình điểm về bữa ăn dinh dưỡng học đường kết hợp tăng cường vận động thể lực do các đơn vị phối hợp thực hiện tại 10 tỉnh, thành đại diện cho các vùng sinh thái khác nhau.

“Chúng tôi nhận thấy sự không đồng đều rất rõ giữa các địa phương. Có những nơi bữa ăn trị giá 45.000-50.000 đồng là điều bình thường nhưng ở nhiều địa phương khác, để có một bữa ăn 15.000 đồng cho học sinh cũng đã là sự co kéo, cân đối rất lớn giữa gia đình và nhà trường”, bà Vân dẫn chứng.

Sự chênh lệch không chỉ nằm ở mức chi cho mỗi bữa ăn mà còn thể hiện ở cơ hội tiếp cận các sản phẩm dinh dưỡng. Trong quá trình triển khai mô hình thí điểm giai đoạn 2020-2021, nhóm thực hiện từng ghi nhận trường hợp học sinh chưa từng được uống sữa tươi. “Điều này cho thấy cùng là trẻ em nhưng điều kiện tiếp cận dinh dưỡng giữa các vùng còn rất khác nhau”, bà Vân phân tích.

Một vấn đề khác được đặt ra là vai trò của nhân lực chuyên trách trong trường học. Theo bà Vân, nếu chỉ quan tâm đến nhân viên y tế theo nghĩa chăm sóc sức khỏe thông thường mà chưa bao quát đầy đủ vấn đề dinh dưỡng thì sẽ khó giải quyết toàn diện bài toán sức khỏe học đường.

Nhân lực tại trường cần có khả năng tham gia hoặc phối hợp trong việc xây dựng thực đơn phù hợp, giám sát quá trình tổ chức bữa ăn, đồng thời trở thành cầu nối giữa nhà trường và phụ huynh. Bởi theo bà Vân, những thói quen tốt về dinh dưỡng, vận động và chăm sóc sức khỏe được hình thành tại trường chỉ có thể duy trì lâu dài nếu tiếp tục được thực hiện tại gia đình.

“Những gì chúng ta tạo được tại nhà trường có thể hình thành thói quen tốt, nhưng để thói quen đó được phát sinh và duy trì tại gia đình thì cần có sự phối hợp chặt chẽ, chứ không thể chỉ dựa vào nhà trường”, bà Vân nhấn mạnh.

Đây cũng là bài toán được nhiều quốc gia quan tâm. Theo bà Vân, việc triển khai mô hình bữa ăn trưa học đường và dinh dưỡng học đường là vấn đề không đơn giản, kể cả với những quốc gia có điều kiện phát triển tốt hơn Việt Nam.

Với Việt Nam, những rào cản về nguồn lực kinh tế, nhân lực, năng lực triển khai cũng như truyền thông càng khiến quá trình này cần có một lộ trình phù hợp và bền vững.

Bà Nguyễn Quỳnh Vân cho biết, nếu nhìn sâu vào những điểm nghẽn mang tính cốt lõi, một vấn đề cần được quan tâm là tính bền vững của chính sách và hành lang pháp lý cho sức khỏe học đường, đặc biệt là dinh dưỡng học đường.

Việc luật hóa sức khỏe học đường, theo bà, có thể tạo cơ sở để giải quyết đồng bộ các vấn đề liên quan đến nguồn lực, nhân lực và năng lực tổ chức thực hiện. Bà đánh giá, Quyết định 973/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình Sức khỏe học đường giai đoạn 2026-2035 là một bước tiến quan trọng khi đưa ra một chương trình tương đối toàn diện, với mục tiêu và lộ trình rõ ràng.

Tuy nhiên, để những mục tiêu đó được duy trì trong dài hạn, cần tiếp tục hoàn thiện thể chế, chính sách về dinh dưỡng học đường, hướng tới sự ổn định, thống nhất và khả năng thực thi lâu dài.

Bà Vân dẫn kinh nghiệm Nhật Bản để cho thấy vai trò của một hành lang pháp lý đủ mạnh. Sau những bước đi đầu tiên trong việc triển khai bữa ăn dinh dưỡng học đường, Nhật Bản đã từng bước xây dựng và ban hành luật về bữa ăn học đường, qua đó tạo nền tảng để chính sách được thực hiện bài bản và liên tục trong nhiều thập kỷ.

Những thay đổi về thể trạng, tầm vóc của các thế hệ trẻ em Nhật Bản sau nhiều năm cũng cho thấy tác động lâu dài của việc đầu tư có hệ thống cho dinh dưỡng học đường.

“Từ kinh nghiệm quốc tế, chúng tôi tin rằng Việt Nam hoàn toàn có cơ sở để làm được điều đó. Điều quan trọng là cần có một chính sách ổn định, thống nhất, được thực thi bài bản và có lộ trình lâu dài”, bà Vân nhận định.

Như vậy, để Chương trình Sức khỏe học đường giai đoạn 2026-2035 thực sự đi vào cuộc sống, bài toán không chỉ nằm ở việc đặt ra mục tiêu bao phủ 100% học sinh mà còn ở khả năng bảo đảm nguồn lực, nhân lực, cơ sở vật chất, chất lượng triển khai và sự phối hợp giữa nhà trường - gia đình - xã hội. Đây cũng là điều kiện để quyền được chăm sóc sức khỏe và tiếp cận dinh dưỡng của trẻ em không chỉ dừng lại trên giấy mà trở thành một phần thực chất trong đời sống học đường.

Sức khỏe học đường cần đặt trẻ em ở vị trí trung tâm, bảo đảm công bằng trong tiếp cận

Theo bà Lê Anh Lan - Chuyên gia giáo dục Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc tại Việt Nam (UNICEF), cách tiếp cận sức khỏe học đường hiện nay cần được nhìn nhận theo hướng toàn diện, không chỉ dừng ở khám, chữa bệnh mà phải hướng tới việc bảo đảm trẻ em được sống, học tập trong một môi trường an toàn, lành mạnh và phù hợp với nhu cầu phát triển.

Từ góc độ quyền trẻ em, bà Lan cho rằng khi triển khai Chương trình Sức khỏe học đường giai đoạn 2026-2035 theo Quyết định 973/QĐ-TTg, cần quán triệt 4 nguyên tắc cơ bản.

Thứ nhất, không phân biệt đối xử, bảo đảm mọi trẻ em đều có cơ hội tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, bất kể tình trạng khuyết tật, điều kiện kinh tế gia đình, dân tộc hay nơi sinh sống, từ thành thị đến vùng sâu, vùng xa. Thứ hai, mọi chính sách, chương trình và hoạt động triển khai phải đặt lợi ích tốt nhất của trẻ em làm trọng tâm. Thứ ba, bảo đảm quyền được sống còn và phát triển của trẻ. Thứ tư, tôn trọng quyền được lắng nghe và tham gia của trẻ em trong những vấn đề liên quan trực tiếp đến các em.

z8140054703534_5bc9e0307e5d8e5cc4aaaafb112921ac
Theo bà Lê Anh Lan - Chuyên gia giáo dục Tổ chức Nhi đồng Liên hợp quốc tại Việt Nam (UNICEF), tiếp cận sức khỏe học đường hiện nay phải hướng tới việc bảo đảm trẻ em được sống, học tập trong một môi trường an toàn, lành mạnh và phù hợp với nhu cầu phát triển.

Từ 4 nguyên tắc trên, đại diện UNICEF Việt Nam đề xuất 5 trọng tâm cần được lưu ý để Chương trình Sức khỏe học đường thực sự toàn diện và lấy trẻ em làm trung tâm.

Một là, chăm sóc toàn diện cả thể chất, tinh thần và xã hội. Đây là định hướng đang được thể hiện trong chương trình và cần tiếp tục được triển khai đồng bộ.

Hai là, bảo đảm dịch vụ phổ cập nhưng có hỗ trợ tăng cường theo nhu cầu. Theo bà Lan, không nên áp dụng một cách tiếp cận giống nhau cho tất cả địa phương, bởi nhu cầu và điều kiện của từng khu vực rất khác nhau. Việc hỗ trợ, đầu tư cần được điều chỉnh dựa trên nhu cầu thực tế, đặc biệt đối với những địa bàn còn nhiều khó khăn.

Ba là, loại bỏ các rào cản trong tiếp cận dịch vụ. Điều này bao gồm việc thiết kế nội dung, phương thức truyền thông phù hợp với từng độ tuổi, từng nhóm đối tượng và tận dụng các nền tảng số để tăng khả năng tiếp cận.

Bốn là, bảo đảm sự tham gia thực chất của trẻ em. Đây là điểm bà Lan cho rằng cần được thể hiện rõ hơn trong Chương trình 973.

Theo bà, khi xây dựng và triển khai các sáng kiến về dinh dưỡng, an toàn, nước sạch, vệ sinh hay sức khỏe tâm thần, cần tham vấn chính trẻ em để biết các hoạt động đó có thực sự phù hợp với nhu cầu, mong muốn và khả năng của các em hay không. Không chỉ dừng ở tham vấn, việc theo dõi, giám sát và đánh giá chương trình cũng cần quan tâm đến mức độ hài lòng của trẻ em khi thụ hưởng các dịch vụ.

“Chúng ta đang nhìn theo cách tiếp cận quyền trẻ em, nghĩa là trẻ em không chỉ là người thụ hưởng mà còn là những người có quyền”, bà Lan nhấn mạnh.

Năm là, quản trị dựa trên dữ liệu và tăng cường trách nhiệm giải trình. Đây cũng là một nội dung đã được đề cập trong Chương trình và cần tiếp tục được chú trọng trong quá trình triển khai.

Trao đổi về việc các địa phương cụ thể hóa một chương trình quốc gia, bà Lê Anh Lan cho rằng điều quan trọng nhất vẫn là khả năng thực thi. Một chương trình dù toàn diện đến đâu nhưng không được triển khai hiệu quả tại địa phương thì cũng khó tạo ra tác động thực chất đối với trẻ em.

Theo bà, các địa phương có thể linh hoạt về phương thức, giải pháp triển khai dịch vụ tùy theo điều kiện và nguồn lực. Đồng thời, địa phương có thể chủ động thúc đẩy hợp tác công - tư để huy động thêm nguồn lực xã hội.

Tuy nhiên, có những nguyên tắc cốt lõi không thể thay đổi, bất kể địa phương có điều kiện thực hiện nhiều hay ít. Trước hết là bảo đảm quyền của trẻ em. Tiếp đó là phải bảo đảm chuẩn dịch vụ tối thiểu trong chăm sóc sức khỏe học đường.

Theo bà Lan, khi nói đến sức khỏe học đường, không nên chỉ tập trung vào dinh dưỡng hay khám, chữa bệnh. Khái niệm này cần được tiếp cận rộng hơn, bao gồm cả sức khỏe thể chất và sức khỏe tâm thần của trẻ em.

“Địa phương có thể khác nhau về nguồn lực và cách thức triển khai, nhưng quyền trẻ em và chuẩn dịch vụ tối thiểu phải được bảo đảm”, quan điểm của bà Lan cho thấy yêu cầu cốt lõi khi đưa Chương trình Sức khỏe học đường từ chính sách vào thực tiễn: không để sự khác biệt về điều kiện địa phương trở thành khoảng cách trong quyền được chăm sóc sức khỏe của trẻ em.

Từ điểm nghẽn dinh dưỡng đến yêu cầu hoàn thiện hành lang pháp lý

Theo PGS.TS.BS Bùi Thị Nhung - Phó Chủ tịch Hội Tiết chế Dinh dưỡng, nguyên Trưởng Khoa Dinh dưỡng Học đường và Ngành nghề, Viện Dinh dưỡng Quốc gia, qua nhiều năm tham gia xây dựng và triển khai các chính sách về dinh dưỡng học đường, bà nhận thấy cơ chế, chính sách là yếu tố quan trọng hàng đầu quyết định tính bền vững của một mô hình.

Qua nhiều năm tham gia xây dựng và triển khai các chương trình, mô hình liên quan đến dinh dưỡng học đường, PGS.TS.BS Bùi Thị Nhung cho rằng khi nhà trường được cung cấp tương đối đầy đủ các điều kiện cần thiết, việc tổ chức bữa ăn học đường bảo đảm dinh dưỡng hoàn toàn có tính khả thi.

Những điều kiện đó bao gồm cơ sở vật chất, nhân lực, kiến thức chuyên môn, công cụ hỗ trợ xây dựng thực đơn, phần mềm tính khẩu phần, cùng với hoạt động truyền thông, giáo dục dinh dưỡng cho phụ huynh.

Cũng theo PGS.TS.BS Bùi Thị Nhung, Việt Nam hoàn toàn có thể học hỏi mô hình bữa ăn học đường của Nhật Bản, nhưng để triển khai trên diện rộng, cần chuyển những mô hình điểm thành các quy định có tính bắt buộc.

Thực tế cho thấy, từ năm 2007, chương trình giáo dục mầm non đã xác định nhiệm vụ của trường không chỉ là chăm sóc, nuôi dưỡng mà còn giáo dục trẻ. Vì vậy, việc tính toán thực đơn tại các trường mầm non đã trở thành một nội dung được quy định, tạo thuận lợi hơn trong tổ chức bữa ăn học đường.

“Trong thời gian tới, chúng ta cần có những chính sách quy định việc thực hiện một cách bắt buộc, từ thông tư, quy định chuyên môn đến tiến tới luật hóa như Nhật Bản. Khi có những quy định rõ về chính sách, nhân lực, giáo dục dinh dưỡng và đội ngũ chuyên môn về dinh dưỡng trong trường học, việc triển khai mô hình mới có thể bền vững”, bà Nhung nhận định.

z8140050636697_37dc2edb222ab299d55d727baebd7caa
PGS.TS.BS Bùi Thị Nhung - Phó Chủ tịch Hội Tiết chế Dinh dưỡng, nguyên Trưởng Khoa Dinh dưỡng Học đường và Ngành nghề, Viện Dinh dưỡng Quốc gia cho rằng, chính sách là yếu tố quan trọng hàng đầu quyết định tính bền vững của một mô hình.

Từ kinh nghiệm triển khai các mô hình điểm, PGS.TS Bùi Thị Nhung cho rằng Chương trình Sức khỏe học đường giai đoạn 2026-2035 đã có nhiều nền tảng để khẳng định tính khả thi. Tuy nhiên, để các mục tiêu thực sự đi vào cuộc sống, cần tập trung khắc phục những điểm nghẽn hiện nay.

Thứ nhất là cơ chế, chính sách về cơ sở vật chất. Theo bà Nhung, thực tế tại các mô hình điểm cho thấy nhiều trường chưa có quy chuẩn cụ thể về bếp ăn học đường: bếp cần được xây dựng như thế nào, khu vực chế biến, trang thiết bị, dụng cụ và việc sửa chữa cần thực hiện ra sao.

Ở những địa bàn miền núi, có trường chỉ có một căn bếp rất nhỏ, kinh phí đầu tư cũng chưa có nguồn ổn định. Vì vậy, cần xây dựng những mô hình, tiêu chuẩn bếp ăn phù hợp để các địa phương có cơ sở triển khai.

Bà Nhung dẫn kinh nghiệm Nhật Bản, nơi các tiêu chuẩn về bếp ăn học đường được cụ thể hóa đến mức có cả hướng dẫn trực quan về một bếp ăn đạt chuẩn cần được tổ chức như thế nào.

Thứ hai là trang thiết bị phục vụ bữa ăn. Từ bát, đĩa, thìa đến khay đựng thức ăn đều cần đáp ứng yêu cầu vệ sinh, an toàn. Tuy nhiên, tại một số trường còn khó khăn, ngay cả việc thay khay nhựa bằng khay inox cũng trở thành khoản chi cần phụ huynh đóng góp.

Theo bà Nhung, trong điều kiện nguồn lực còn hạn chế, thay vì phân bổ dàn trải, cần ưu tiên đầu tư cho những hạng mục thiết yếu, trước hết là cơ sở vật chất, trang thiết bị và nhân lực tại các địa bàn khó khăn.

Thứ ba là bài toán nhân lực bếp ăn học đường. Đây là một trong những điểm nghẽn lớn được bà Nhung nhấn mạnh. Hiện đội ngũ trực tiếp chế biến thức ăn tại nhiều trường không thuộc biên chế mà chủ yếu làm việc theo hợp đồng ngắn hạn, với mức thu nhập thấp. Điều này khiến các trường khó tuyển được nhân lực có chuyên môn và kỹ năng chế biến món ăn phù hợp với yêu cầu dinh dưỡng.

Tại một số mô hình điểm, khi nhân viên bếp nghỉ việc, hiệu trưởng và giáo viên phải trực tiếp tham gia hỗ trợ, thậm chí học cách chế biến để có thể hướng dẫn lại nhân viên mới.

“Cần có một đội ngũ được đào tạo, tập huấn thường xuyên về dinh dưỡng và kỹ thuật chế biến. Khi nhân lực đủ về số lượng và được chuẩn hóa về chuyên môn, nhà trường mới có thể tổ chức những bữa ăn cân bằng dinh dưỡng một cách ổn định”, bà Nhung nói.

Thực tế tại một số trường vùng khó còn cho thấy tình trạng thiếu nhân lực nghiêm trọng. Tại Sơn La, trong thời gian triển khai mô hình điểm, có trường chỉ có 1-2 người phụ trách bếp. Khi không đủ kinh phí thuê thêm nhân lực, phụ huynh phải luân phiên đến trường hỗ trợ để bảo đảm bữa ăn cho học sinh.

Thứ tư là mức thu và khả năng chi trả của gia đình. Theo bà Nhung, tại thời điểm triển khai mô hình điểm, mức tiền ăn tại một số địa phương còn rất thấp, như Sơn La và Thái Bình khoảng 12.000 đồng/bữa, Nghệ An khoảng 14.000 đồng/bữa. Ngay cả việc tăng thêm khoảng 3.000 đồng để hỗ trợ chi phí gạo cũng là một bài toán khó và tại một số nơi chỉ có thể duy trì trong thời gian nhất định.

Trong bối cảnh đó, nguồn lực hỗ trợ cần được ưu tiên cho trẻ em nghèo, trẻ em có hoàn cảnh khó khăn và các gia đình chính sách tại những địa bàn còn nhiều hạn chế. Đồng thời, cần huy động thêm nguồn lực từ Nhà nước, doanh nghiệp và các tổ chức xã hội.

Thứ năm là truyền thông, giáo dục dinh dưỡng và tăng cường kết nối gia đình - nhà trường. Theo PGS.TS Bùi Thị Nhung, giáo dục dinh dưỡng trong trường học không chỉ giúp học sinh hình thành kiến thức, thói quen ăn uống lành mạnh mà còn có thể tác động trở lại gia đình.

Thông qua các hoạt động truyền thông, hội thảo với phụ huynh và giáo dục dinh dưỡng cho học sinh, cha mẹ có thêm cơ sở để hiểu và đồng hành với nhà trường trong việc chăm sóc sức khỏe, dinh dưỡng cho trẻ.

Bên cạnh đó, cần tăng cường cơ chế giám sát, đánh giá chất lượng bữa ăn, đặc biệt trong bối cảnh hiện nay khoảng 50% trường học tự tổ chức chế biến và 50% sử dụng dịch vụ cung cấp suất ăn. Việc hoàn thiện cơ chế quản lý, giám sát các đơn vị cung cấp suất ăn là cần thiết để bảo đảm an toàn và chất lượng bữa ăn học đường.

Một vấn đề khác được PGS.TS.BS. Bùi Thị Nhung lưu ý là sự gia tăng nhanh của tình trạng thừa cân, béo phì ở trẻ em, đặc biệt tại khu vực thành thị.

Theo bà, tỷ lệ thừa cân, béo phì ở trẻ em tiểu học tại một số khu vực thành thị đã tăng đáng kể qua các giai đoạn. Điều này đặt ra yêu cầu phải thay đổi cách tiếp cận dinh dưỡng học đường không chỉ bảo đảm trẻ được ăn đủ mà phải ăn đúng, cân đối và phù hợp với nhu cầu phát triển, đồng thời kết hợp với hoạt động thể lực.

Giáo dục dinh dưỡng và tổ chức bữa ăn học đường hợp lý vì vậy cần song hành với việc khuyến khích vận động, giúp kiểm soát tình trạng thừa cân, béo phì và nâng cao thể chất cho học sinh.

Từ những kinh nghiệm thực tiễn trên, PGS.TS.BS. Bùi Thị Nhung cho rằng Việt Nam cần từng bước chuyển từ các hướng dẫn, khuyến nghị sang những quy định có tính pháp lý và bắt buộc thực hiện, trong đó có thể nghiên cứu xây dựng luật về bữa ăn học đường như kinh nghiệm của Nhật Bản.

Theo bà, khi có hành lang pháp lý đủ mạnh, các vấn đề về cơ sở vật chất, nhân lực, trang thiết bị, chuyên môn dinh dưỡng, nguồn lực và trách nhiệm của các bên sẽ có cơ sở để được quy định rõ ràng và triển khai thống nhất.

“Chúng ta không chỉ cần một chính sách có tính định hướng mà cần một cơ chế đủ mạnh để bảo đảm chính sách được thực thi. Khi việc tổ chức bữa ăn học đường được luật hóa và triển khai theo một lộ trình bài bản, chúng ta sẽ có thêm cơ sở để từng bước cải thiện tình trạng dinh dưỡng và thể chất của học sinh Việt Nam”, PGS.TS.BS Bùi Thị Nhung nhấn mạnh.

Doanh nghiệp không chỉ đồng hành bằng kinh phí, mà cần góp công nghệ, giải pháp và kinh nghiệm

Bà Nguyễn Quỳnh Vân - Viện phó Viện Dinh dưỡng TH cho rằng, khi nói đến vai trò đồng hành của doanh nghiệp trong các chương trình sức khỏe, dinh dưỡng học đường, không nên chỉ nhìn nhận ở góc độ doanh nghiệp đóng góp kinh phí hay sản phẩm. Đây mới chỉ là một phần trong sự tham gia, trong khi doanh nghiệp còn có thể đóng góp công nghệ, mô hình, giải pháp và kinh nghiệm triển khai thực tế.

Từ kinh nghiệm hơn 15 năm đồng hành cùng các bộ, ngành, bà Vân cho rằng doanh nghiệp có thể tham gia xuyên suốt quá trình, từ xây dựng mô hình, thí điểm, triển khai đến đánh giá và hoàn thiện giải pháp. Tuy nhiên, sự tham gia này cần được thực hiện trên cơ sở phối hợp với cơ quan quản lý, nhà khoa học, đơn vị nghiên cứu và địa phương, nhằm bảo đảm mục tiêu chuyên môn và lợi ích của trẻ em được đặt lên hàng đầu.

Bà dẫn chứng Mô hình điểm “Bữa ăn học đường bảo đảm dinh dưỡng hợp lý kết hợp tăng cường hoạt động thể lực cho trẻ em, học sinh, sinh viên Việt Nam”, do Tập đoàn TH khởi xướng, đồng hành cùng Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Y tế (Viện Dinh dưỡng), cùng các chuyên gia độc lập trong nước và quốc tế (Pháp và Nhật Bản) triển khai tại 10 tỉnh, thành đại diện cho các vùng sinh thái. Theo bà, doanh nghiệp không chỉ cung cấp nguồn lực mà còn cùng các nhà khoa học, cơ quan nghiên cứu và địa phương trực tiếp triển khai mô hình tại nhà trường.

Điểm quan trọng là mô hình không dừng lại sau một năm thí điểm mà được theo dõi trong thời gian dài, qua đó ghi nhận những thay đổi tích cực về thể trạng và vóc dáng của học sinh.

Bà Vân cũng chia sẻ một ví dụ về hoạt động đồng hành trong năm học 2026-2027. Theo đó, doanh nghiệp phối hợp với Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam triển khai chương trình bữa ăn dinh dưỡng học đường cho trẻ em tại 3 tỉnh gồm Vĩnh Long, Đắk Lắk và Tuyên Quang.

Trong chương trình, doanh nghiệp phối hợp với các cơ quan, đơn vị liên quan tại địa phương để triển khai các hoạt động phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội, văn hóa, thói quen sinh hoạt và đặc điểm dinh dưỡng của trẻ tại từng địa bàn.

Sau khảo sát, các chuyên gia từng trực tiếp tham gia mô hình điểm giai đoạn 2020-2021 được đưa về địa phương để tập huấn và chuyển giao kinh nghiệm cho nhà trường.

Hoạt động tập huấn không chỉ dành cho một nhóm đối tượng mà có sự tham gia của ban giám hiệu, nhân viên bếp, giáo viên và cha mẹ học sinh. Nội dung tập trung vào cách xây dựng một bữa ăn cân đối, vai trò của dinh dưỡng đối với sự phát triển của trẻ và cách duy trì những thói quen ăn uống phù hợp cả ở trường lẫn tại gia đình.

Theo bà Vân, đây cũng chính là điểm khác biệt giữa việc tài trợ đơn thuần và đồng hành lâu dài. Nếu doanh nghiệp chỉ cung cấp kinh phí hoặc sản phẩm trong một khoảng thời gian, chương trình có thể tạo ra tác động nhất định nhưng khó duy trì bền vững khi nguồn hỗ trợ kết thúc. Điều quan trọng trong quá trình đồng hành không chỉ là cung cấp nguồn lực vật chất mà còn là chia sẻ kiến thức, kỹ năng và cách làm để nhà trường, gia đình và địa phương có thêm khả năng duy trì mô hình.

Từ thực tiễn triển khai, bà Vân cho rằng doanh nghiệp có thể đóng góp hiệu quả nhất khi trở thành đối tác cung cấp giải pháp, thay vì chỉ là đơn vị tài trợ. Sự tham gia về công nghệ, chuyên môn, đào tạo và chia sẻ kinh nghiệm tại địa phương sẽ giúp các mô hình dinh dưỡng học đường có thêm cơ sở để duy trì lâu dài, đồng thời tăng khả năng nhân rộng khi đã chứng minh được hiệu quả./.