12:28 11/08/2026

Sức khỏe học đường trước yêu cầu mới: Đặt dinh dưỡng vào hệ sinh thái chăm sóc học sinh

Dinh dưỡng học đường, y tế trường học, hoạt động thể lực, sức khỏe tâm thần và dữ liệu sức khỏe cần được đặt trong một hệ sinh thái chăm sóc học sinh thống nhất. Đây là yêu cầu được đặt ra tại Hội thảo “Đồng hành – Kiến tạo tương lai: Vì một Việt Nam khỏe mạnh” diễn ra sáng 11/8 tại Hà Nội.

Sáng nay (11/8), tại Hà Nội, Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) tổ chức Hội thảo “Đồng hành – Kiến tạo tương lai: Vì một Việt Nam khỏe mạnh” nhằm thúc đẩy truyền thông về sức khỏe học đường và kết nối nguồn lực xã hội triển khai Chương trình Sức khỏe học đường giai đoạn 2026–2035.

Hội thảo do Bộ GD&ĐT chỉ đạo, Vụ Học sinh, Sinh viên và Báo Giáo dục và Thời đại tổ chức với sự đồng hành của Tập đoàn TH. Nội dung tập trung vào ba vấn đề: đưa chính sách sức khỏe học đường vào thực tiễn; đổi mới truyền thông để tạo thay đổi hành vi; huy động, sử dụng nguồn lực xã hội minh bạch và hiệu quả.

Những “điểm nghẽn” từ nhân lực, cơ sở vật chất đến dữ liệu sức khỏe

Quyết định số 973/QĐ-TTg ngày 01/6/2026 của Thủ tướng Chính phủ và Quyết định số 1991/QĐ-BGDĐT ngày 09/7/2026 của Bộ Giáo dục và Đào tạo đã xác định mục tiêu, nhiệm vụ, lộ trình triển khai Chương trình Sức khỏe học đường giai đoạn 2026–2035. 

Mục tiêu và nhiệm vụ trọng tâm của Chương trình nhấn mạnh vào yêu cầu triển khai đồng bộ y tế trường học, dinh dưỡng học đường, vệ sinh, hoạt động thể lực, phòng chống bệnh tật, chăm sóc sức khỏe tâm thần và xây dựng môi trường giáo dục an toàn, thực hiện số hóa các dữ liệu sức khỏe học đường; tăng cường phối hợp giữa Giáo dục, Y tế, địa phương, gia đình và xã hội.

DSC06470
Ông Hoàng Đức Minh - Vụ trưởng Vụ Học sinh, sinh viên, Bộ GD&ĐT trình bày báo cáo đề dẫn tại Hội thảo.

Báo cáo đề dẫn tại Hội thảo, Ông Hoàng Đức Minh, Vụ trưởng Vụ Học sinh, sinh viên, Bộ Giáo dục và Đào tạo cho biết, trong giai đoạn 2019-2025, mặc dù các điều kiện về nhân lực, cơ sở vật chất, thiết bị triển khai hoạt động chăm sóc sức khỏe người học đã có những cải thiện đáng kể. 

Tuy nhiên, ở nhiều nơi, các điều kiện đảm bảo về nhân lực, cơ sở vật chất phục vụ công tác y tế trường học còn rất hạn chế, đặc biệt ở khu vực miền núi, vùng sâu, vùng xa. Hệ thống chính sách về chăm sóc sức khỏe người học, dinh dưỡng học đường chưa hoàn thiện đầy đủ nên việc tổ chức, quản lý sức khỏe người học, chăm sóc dinh dưỡng học đường, giám sát bữa ăn học đường vẫn còn nhiều hạn chế. 

Bên cạnh đó, công tác chỉ đạo, điều hành, phối hợp liên ngành ở một số nơi chưa đồng bộ, quyết liệt. Công tác phối hợp giữa gia đình và nhà trường trong thực hiện chế độ ăn khoa học, hợp lý, đảm bảo dinh dưỡng cho người học ở một số cơ sở giáo dục chưa thật sự hiệu quả. Cụ thể:

Thứ nhất, đội ngũ nhân viên y tế trường học đối với khối giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông chưa đáp ứng yêu cầu, đặc biệt tại vùng sâu, vùng khó khăn; tỷ lệ nhân viên y tế trường học chuyên trách chỉ chiếm 50,7%, trong đó chỉ khoảng 30% có chuyên môn y tế. Việc bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ cho nhân viên y tế trường học theo quy định của Bộ Y tế mới chỉ đạt 38,5%; Nhân viên phụ trách công tác y tế trường học, công tác bán trú chưa được đào tạo đầy đủ, còn thiếu kinh nghiệm trong việc lựa chọn thực đơn và kiểm soát an toàn thực phẩm.

Bên cạnh đó, tại nhiều địa phương, nhất là vùng khó khăn, cơ sở vật chất, thiết bị, thuốc thiết yếu dành cho công tác y tế trường học chưa đồng bộ và chưa đáp ứng với thực tế; tỷ lệ cơ sở giáo dục có phòng y tế riêng, có đủ thiết bị, dụng cụ sơ cấp cứu thông thường và phòng y tế có đủ thuốc thiết yếu mới chỉ đạt 80%;.. Ngoài ra, cơ sở vật chất trường học ở nhiều địa phương chưa đáp ứng được yêu cầu phục vụ cho công tác dinh dưỡng, tổ chức ăn bán trú.

Thứ hai, việc tích hợp, lồng ghép nội dung giáo dục sức khỏe vào một số môn học của Chương trình giáo dục hiện hành còn hạn chế, nội dung môn Giáo dục thể chất còn thiên nhiều về hoạt động vận động, thiếu trang bị kiến thức về sức khỏe, vệ sinh, dinh dưỡng. Tỷ lệ người học được truyền thông, giáo dục về các nội dung chăm sóc, bảo vệ, nâng cao sức khoẻ chỉ đạt khoảng 50%.

Thứ ba, cơ sở dữ liệu về sức khỏe và sổ sức khỏe điện tử của người học chưa được hoàn thiện; các quy định về hồ sơ kiểm tra, quản lý sức khỏe người học chưa được số hóa. Chưa có các phần mềm về thực đơn cân bằng dinh dưỡng, kiểm tra sức khỏe người học thống nhất, phù hợp với từng cấp học.

Thứ tư, tỷ lệ cơ sở giáo dục có đủ giáo viên giáo dục thể chất và được tập huấn, bồi dưỡng, nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ chiếm 90% (chưa đạt so với yêu cầu). 

Để khắc phục, giải quyết triệt để những khó khăn, bất cập, hạn chế trên, Vụ trưởng Vụ Học sinh, sinh viên Hoàng Đức Minh khẳng định cần phải có một số những định hướng giải pháp tối ưu cụ thể:

Thứ nhất, xây dựng, hoàn thiện cơ chế, chính sách, quy định thuộc thẩm quyền của Bộ GD&ĐT, trong đó: Các hướng dẫn sửa đổi quy định danh mục thiết bị, thuốc thiết yếu cho phòng y tế trường học; Quy định về về vị trí việc làm, định mức số người làm việc trong cơ sở giáo dục; tiêu chuẩn bàn ghế học sinh phổ thông; Quy định về giáo dục dinh dưỡng học đường và tổ chức bữa ăn bán trú trong các cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông. 

Thứ hai, ứng dụng công nghệ, chuyển đổi số trong quản lý sức khỏe người học: Xây dựng phần mềm, công cụ và ứng dụng chuyển đổi số trong đánh giá tình trạng dinh dưỡng, xây dựng thực đơn cân bằng dinh dưỡng khi tổ chức bữa ăn học đường; bộ chỉ số sức khỏe học đường và quản lý, theo dõi và thống kê, đánh giá về sức khỏe người học và kết quả thực hiện Chương trình; Số hóa, chuẩn hóa các sản phẩm truyền thông, giáo dục sức khỏe người học.

Thứ ba, tăng cường công tác truyền thông, giáo dục, chăm sóc sức khỏe và xây dựng, nhân rộng các mô hình như: Xây dựng, hoàn thiện, hệ thống hóa và tổ chức các hoạt động truyền thông, giáo dục sức khỏe các hướng dẫn chuyên môn, tài liệu truyền thông giáo dục, chăm sóc sức khỏe, dự phòng dịch, bệnh, tật học đường, chăm sóc sức khỏe tâm thần phù hợp với từng cấp học; Xây dựng các mô hình trường học an toàn, nâng cao sức khỏe, y tế trường học thân thiện, linh hoạt, phù hợp với các cấp học, trình độ đào tạo

Thứ tư, tăng cường phối hợp và huy động các nguồn lực xã hội. Xây dựng và thực hiện hiệu quả cơ chế phối hợp giữa ngành giáo dục và ngành y tế địa phương, cơ sở quân y, quân dân y trên địa bàn trong triển khai công tác y tế trường học, sức khỏe học đường; Huy động các nguồn lực xã hội trong việc thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp của Chương trình.

Theo nhà báo Triệu Ngọc Lâm - Tổng Biên tập Báo Giáo dục và Thời đại, chăm sóc sức khỏe học đường không còn là câu chuyện riêng của ngành Giáo dục hay Y tế, mà là nền tảng đối với sự phát triển toàn diện của học sinh và chất lượng nguồn nhân lực tương lai.

Nhận thức rõ vai trò này, ngày 1/6/2026, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 973/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình Sức khỏe học đường giai đoạn 2026-2035. Tiếp đó, ngày 9/7/2026, Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Quyết định số 1991/QĐ-BGDĐT về kế hoạch triển khai chương trình trong toàn ngành.

DSC06510
Nhà báo Triệu Ngọc Lâm - Tổng Biên tập Báo Giáo dục và Thời đại phát biểu tại Hội thảo.

Theo nhà báo Triệu Ngọc Lâm, trong bối cảnh nhu cầu chăm sóc sức khỏe ngày càng đa dạng, nguồn lực ngân sách Nhà nước có giới hạn, việc huy động nguồn lực xã hội là yêu cầu tất yếu. Tuy nhiên, bài toán không chỉ nằm ở việc huy động thêm nguồn lực mà quan trọng hơn là đưa nguồn lực đến đúng nơi cần thiết, sử dụng minh bạch, đúng mục tiêu và tạo ra hiệu quả có thể đo đếm. Đây là bài toán về cơ chế, dữ liệu, niềm tin và khả năng kết nối, trong đó truyền thông, đặc biệt là báo chí chính thống, cần đóng vai trò “đi trước, mở đường”.

Truyền thông về sức khỏe học đường không chỉ cung cấp kiến thức về dinh dưỡng, vệ sinh, phòng chống bệnh học đường, an toàn thực phẩm, vận động thể chất hay sức khỏe tâm thần, mà còn phải góp phần thay đổi nhận thức, hành vi và kết nối chính sách với thực tiễn. Theo đó, truyền thông cần biến những nhu cầu cụ thể thành vấn đề có thể nhìn thấy, xác định mục tiêu cần giải quyết và kết nối mục tiêu đó với nguồn lực phù hợp.

Từ thực tế triển khai, nhà báo Triệu Ngọc Lâm chỉ ra 5 rào cản chính.

Thứ nhất là nhận thức: cần chuyển từ tư duy “tài trợ cho học sinh” sang “đầu tư cho con người và nguồn nhân lực tương lai”.

Thứ hai là cơ chế, pháp lý: cần quy định rõ ràng, minh bạch về tiếp nhận, sử dụng tài trợ, vừa kiểm soát xung đột lợi ích, vừa tạo điều kiện cho nguồn lực hợp pháp được sử dụng đúng mục tiêu.

Thứ ba là năng lực. Nhà trường và y tế cơ sở hiểu nhu cầu nhưng chưa phải nơi nào cũng có khả năng xây dựng đề xuất đủ cụ thể để kết nối nguồn lực.

Thứ tư là niềm tin, đòi hỏi sự minh bạch về nhu cầu, nguồn lực, quá trình sử dụng và kết quả.

Cuối cùng là điều phối, bởi chăm sóc sức khỏe học đường nằm ở giao điểm giữa Giáo dục, Y tế, gia đình, doanh nghiệp và cộng đồng. Thiếu cơ chế điều phối, nguồn lực dễ phân tán hoặc tìm đến nơi có khả năng kết nối tốt hơn thay vì nơi có nhu cầu cấp thiết hơn.

Để tháo gỡ, nhà báo Triệu Ngọc Lâm đề xuất thay đổi cách tiếp cận xã hội hóa theo hướng lấy nhu cầu thực tế làm điểm xuất phát; lấy dữ liệu và minh bạch làm nền tảng; xây dựng quan hệ đồng hành dài hạn giữa doanh nghiệp và nhà trường. Cùng với đó, cần nâng cao năng lực xây dựng đề xuất, trình bày dữ liệu, truyền thông và kết nối đối tác cho đội ngũ y tế trường học, cán bộ phụ trách công tác học sinh.

DSC06444
Các đại biểu tham dự Hội thảo.

Với vai trò kết nối, báo chí chính thống có thể tạo diễn đàn để cơ quan quản lý, nhà trường, chuyên gia, doanh nghiệp và các tổ chức xã hội nhìn thấy nhu cầu của nhau, chia sẻ giải pháp và cùng hành động. Báo chí không thay thế cơ quan quản lý hay nhà trường, nhưng có thể đưa nhu cầu thực tế ra ánh sáng, thúc đẩy đối thoại và góp phần giám sát, lan tỏa những mô hình hiệu quả.

Từ đó, 3 nhóm kiến nghị được đặt ra: Xây dựng hướng dẫn thống nhất về xã hội hóa nguồn lực chăm sóc sức khỏe học đường; Thí điểm hệ thống dữ liệu về nhu cầu sức khỏe học đường tại một số địa phương để điều phối nguồn lực theo nhu cầu thực tế; Đào tạo kỹ năng truyền thông, xây dựng đề xuất và vận động nguồn lực cho đội ngũ y tế trường học, cán bộ phụ trách công tác học sinh.

Dinh dưỡng học đường cần một nền tảng chính sách bền vững

DSC06539
Ông Phạm Thế Quyền - Giám đốc Nghiên cứu và Phát triển Tập đoàn TH trình bày tham luận về vai trò của dinh dưỡng học đường.

Chia sẻ về vai trò của dinh dưỡng học đường, Ông Phạm Thế Quyền, Giám đốc Nghiên cứu và Phát triển Tập đoàn TH nhấn mạnh, đầu tư cho dinh dưỡng không chỉ để các em học sinh hôm nay khỏe mạnh hơn, mà còn để Việt Nam ngày mai có một thế hệ công dân có đủ thể lực, trí lực và bản lĩnh để kiến tạo tương lai đất nước. 

Với nhận thức sâu sắc vai trò của dinh dưỡng trong vấn đề nâng cao thể trạng của người Việt, ngay từ ngày đầu thành lập, Tập đoàn TH luôn xác định việc đồng hành cùng các chương trình sức khỏe học đường là một trong những trách nhiệm và cam kết lâu dài của doanh nghiệp. 

TH đã đồng hành cùng Bộ Giáo dục, Viện Dinh dưỡng – Bộ Y tế, các chuyên gia độc lập về dinh dưỡng trong nước và quốc tế,... phát triển Mô hình điểm Bữa ăn học đường bảo đảm dinh dưỡng hợp lý kết hợp tăng cường hoạt động thể lực cho trẻ em, học sinh, sinh viên Việt Nam, triển khai thí điểm trong năm học 2020–2021 tại 10 tỉnh, thành phố đại diện cho 5 vùng sinh thái lớn trên cả nước.

DSC06461
Toàn cảnh Hội thảo “Đồng hành – Kiến tạo tương lai – Vì một Việt Nam khỏe mạnh” diễn ra sáng 11/8 tại Hà Nội.

Mô hình xây dựng bữa ăn dựa trên thực phẩm tự nhiên, phù hợp lợi thế nông nghiệp từng vùng; đưa sữa tươi vào khẩu phần theo hướng khoa học, với một ly sữa tươi không bổ sung vi chất mỗi ngày học trong tuần và bộ 400 thực đơn. Học sinh đồng thời được khuyến khích vận động tối thiểu 60 phút mỗi ngày.

Sau một năm triển khai, Mô hình điểm đã có những kết quả vượt trội: cải thiện thể chất, giảm suy dinh dưỡng và thừa cân, đồng thời nâng cao khả năng tập trung, tinh thần kỷ luật và sự tự tin cho trẻ. Mô hình được đánh giá là giải pháp toàn diện, mang tính cách mạng về nâng cao tầm vóc người Việt. Đây chính là cơ sở khoa học để xây dựng chính sách dinh dưỡng học đường gắn với giáo dục toàn diện. 

Từ thực tiễn triển khai, ông Phạm Thế Quyền cho rằng, sức khỏe học đường chỉ có thể được cải thiện bền vững khi các giải pháp về dinh dưỡng, vận động, môi trường học đường, giáo dục sức khỏe và sự tham gia của các bên liên quan được triển khai đồng bộ trong một hệ thống thống nhất.

Theo đó, ông đề xuất thiết lập định biên nhân sự dinh dưỡng trong trường học, đặc biệt tại các cơ sở giáo dục mầm non và tiểu học; bảo đảm cơ sở vật chất phục vụ tổ chức bữa ăn, hoạt động thể lực và vệ sinh trường học. Nhân sự chuyên trách về dinh dưỡng cần có chức năng xây dựng thực đơn, giám sát chất lượng bữa ăn, phối hợp với đơn vị cung cấp suất ăn và phụ huynh trong công tác dinh dưỡng cho trẻ.

Bên cạnh đó, cần bảo đảm nguồn lực tài chính cho dinh dưỡng học đường, trước tiên tập trung vào trẻ mầm non và tiểu học; nghiên cứu mức chi phí hợp lý cho bữa ăn học đường, xây dựng cơ chế phối hợp giữa ngân sách Nhà nước, đóng góp của phụ huynh và nguồn lực xã hội theo hướng minh bạch, bền vững.

Ông Quyền cũng đề xuất tổ chức bữa ăn bán trú phù hợp với điều kiện từng địa phương, dựa trên lợi thế nông nghiệp vùng miền và đặc điểm sinh hoạt của học sinh; đồng thời đẩy mạnh truyền thông để học sinh, phụ huynh, giáo viên và xã hội có nhận thức đúng về vai trò của dinh dưỡng học đường.

Đáng chú ý, ông Phạm Thế Quyền đề xuất nghiên cứu xây dựng Luật Dinh dưỡng học đường nhằm tạo nền tảng pháp lý đồng bộ, ổn định và bền vững cho công tác này. Ông cho rằng: “Cần có Luật Dinh dưỡng học đường nhằm thể chế hóa đầy đủ chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về nâng cao sức khỏe thể chất và tinh thần, nâng cao tầm vóc thế hệ trẻ”.

Theo ông Quyền, việc xây dựng một khung pháp lý riêng về dinh dưỡng học đường sẽ góp phần tạo cơ sở triển khai các chính sách theo hướng đồng bộ, ổn định và bền vững, thay vì phụ thuộc vào những chương trình hoặc mô hình riêng lẻ. Ông cho rằng Việt Nam đã có quá trình nghiên cứu, triển khai thí điểm và tích lũy kinh nghiệm thực tiễn, qua đó có thể tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện cơ sở thực tiễn cho một chính sách pháp luật chuyên biệt về dinh dưỡng học đường.

Dẫn kinh nghiệm Nhật Bản, ông Quyền cho biết nước này đã ban hành Luật Bữa trưa Học đường từ năm 1954 và cho rằng đây là một gợi mở để Việt Nam nghiên cứu cách thức thể chế hóa chính sách dinh dưỡng học đường phù hợp với điều kiện trong nước.

Theo ông Quyền, Quyết định số 973/QĐ-TTg đã mở ra một giai đoạn mới cho công tác sức khỏe học đường. Đây cũng là thời điểm để kết nối những kinh nghiệm từ các chương trình thí điểm, nghiên cứu khoa học và thực tiễn triển khai, từ đó từng bước hoàn thiện chính sách và nhân rộng những mô hình hiệu quả.

Từ góc nhìn của doanh nghiệp, Tập đoàn TH cho biết sẽ tiếp tục đồng hành cùng Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Y tế, các bộ, ngành, địa phương và cộng đồng doanh nghiệp trong các chương trình dinh dưỡng quốc gia.

Ông Phạm Thế Quyền nhấn mạnh, đầu tư cho dinh dưỡng không chỉ nhằm giúp học sinh hôm nay khỏe mạnh hơn, mà còn góp phần hình thành một thế hệ có đủ thể lực, trí lực và bản lĩnh để đóng góp cho sự phát triển của đất nước.

Trường học nâng cao sức khỏe cần cách tiếp cận toàn diện

Tại hội thảo, bà Jenelle Babb, Cố vấn khu vực về Giáo dục Sức khỏe và Phát triển toàn diện, Văn phòng khu vực UNESCO tại Bangkok, nhấn mạnh mô hình Trường học nâng cao sức khỏe là một sáng kiến trọng tâm nhằm thúc đẩy triển khai các chương trình sức khỏe và dinh dưỡng học đường.

Theo bà Jenelle Babb, Chính phủ các nước từ lâu đã nhận thức vai trò quyết định của ngành Giáo dục đối với những kết quả có mối liên hệ chặt chẽ giữa giáo dục và sức khỏe. Với tư cách là cơ quan đầu mối của Liên Hợp Quốc về Mục tiêu Phát triển Bền vững số 4, UNESCO đặt sức khỏe và hạnh phúc vào vị trí trung tâm trong chiến lược của tổ chức, hướng tới mục tiêu giúp mọi người học phát triển toàn diện thông qua cách tiếp cận toàn diện, qua đó cải thiện cả kết quả sức khỏe và kết quả giáo dục.

Trên phạm vi toàn cầu, 9/10 quốc gia thực hiện chính sách hoặc chương trình sức khỏe và dinh dưỡng học đường; hơn 100 quốc gia đã có chương trình tiêm chủng tại trường học; hầu như quốc gia nào cũng đưa nội dung giáo dục sức khỏe vào chương trình giảng dạy.

dinh-duong-hoc-duong-1
Dinh dưỡng học đường được xác định là một trong những nội dung quan trọng trong xây dựng thế hệ học sinh khỏe mạnh.

Bà Jenelle Babb khẳng định, các chương trình sức khỏe và dinh dưỡng học đường là một trong những khoản đầu tư thông minh nhất mà các quốc gia có thể thực hiện để đảm bảo tiềm năng con người và phát triển nguồn nhân lực. Đây là những khoản đầu tư hiệu quả về chi phí, khả thi trong mọi bối cảnh và mang lại lợi ích phát triển đáng kể.

Từ kinh nghiệm của 5 quốc gia tiên phong tham gia quá trình xây dựng các tiêu chuẩn toàn cầu về sức khỏe học đường, bà Jenelle Babb chỉ ra một số bài học quan trọng.

Trước hết, sức khỏe học đường phải được coi là một ưu tiên của giáo dục, không phải nhiệm vụ nằm ngoài ngành Giáo dục. Vì vậy, nội dung này cần được thể hiện rõ trong các kế hoạch, quy trình và hệ thống giám sát của ngành Giáo dục.

Vai trò của ngành Giáo dục và Y tế cần mang tính bổ trợ lẫn nhau. Trong đó, ngành Giáo dục chủ trì việc lồng ghép các nội dung sức khỏe vào trường học và hệ thống giáo dục; ngành Y tế hỗ trợ về tiêu chuẩn kỹ thuật, dịch vụ và chuyển tuyến chuyên môn. Bên cạnh đó, cần kế thừa và phát triển từ những nền tảng sẵn có, củng cố các chương trình và những cải cách đang được triển khai, thay vì tạo ra một sáng kiến hoàn toàn mới.

Đối với Việt Nam, bà Jenelle Babb cho rằng một số bước quan trọng đã được khởi động. Tuy nhiên, cần tiếp tục tập trung vào một số vấn đề.

Thứ nhất, thành lập hoặc củng cố cơ chế phối hợp liên ngành với vai trò, trách nhiệm giải trình rõ ràng.

Thứ hai, xem xét và cụ thể hóa bộ tiêu chuẩn toàn cầu về Trường học nâng cao sức khỏe cho phù hợp với bối cảnh Việt Nam.

Thứ ba, đầu tư nâng cao năng lực ở tất cả các cấp, từ cán bộ lập kế hoạch giáo dục, cán bộ ngành Giáo dục cấp tỉnh, thành phố đến giáo viên trực tiếp tại nhà trường.

Thứ tư, xây dựng kế hoạch tài chính và cơ chế giám sát chương trình ngay từ đầu, trong đó có việc sử dụng bộ chỉ số Trường học nâng cao sức khỏe.

Một điểm quan trọng cần được lưu ý, theo bà Jenelle Babb, là trường học không phải nền tảng để triển khai các can thiệp y tế đơn lẻ, cũng không phải “cánh tay nối dài” của ngành Y tế nhằm cung cấp dịch vụ khám, chữa bệnh.

Các chương trình sức khỏe và dinh dưỡng học đường cần được thiết kế để bổ trợ cho hoạt động dạy và học, không cạnh tranh hay lấn át nhiệm vụ giáo dục. Đây cũng là lý do các quan hệ đối tác đa bên, liên ngành có ý nghĩa đặc biệt quan trọng.

“Hệ thống giáo dục không thể tự mình thực hiện thành công việc này”, bà Jenelle Babb nhấn mạnh, đồng thời cho rằng cần xây dựng những cơ chế đối tác mạnh mẽ, hòa nhập, đa dạng, có sự tham gia tích cực và được xây dựng trên nền tảng tin cậy lẫn nhau.

Cần phối hợp đa ngành để mọi học sinh được tiếp cận dinh dưỡng và chăm sóc sức khỏe

Tại Hội thảo, ông Nguyễn Vinh Thanh - Phó Giám đốc Sở GD&ĐT tỉnh Bắc Ninh cho biết: Nhận thức rõ chăm sóc, bảo vệ và nâng cao sức khỏe học sinh là nhiệm vụ liên ngành, liên lĩnh vực, đòi hỏi sự tham gia của nhiều chủ thể, tỉnh Bắc Ninh luôn xác định xây dựng cơ chế phối hợp đồng bộ và huy động hiệu quả các nguồn lực xã hội là giải pháp then chốt để triển khai Chương trình Sức khỏe học đường.

Trên cơ sở đó, tỉnh Bắc Ninh đã ban hành nhiều kế hoạch, quy chế phối hợp và cơ chế hỗ trợ nhằm cụ thể hóa các chủ trương của Trung ương. Từ hệ thống các cơ chế, chính sách và quy chế phối hợp này, Bắc Ninh từng bước hình thành một cơ chế phối hợp đa ngành, đa chủ thể.

Trong đó, Nhà nước giữ vai trò kiến tạo và điều phối; các sở, ngành phối hợp thực hiện; chính quyền địa phương tổ chức triển khai; cơ sở giáo dục là trung tâm thực hiện; gia đình là chủ thể đồng hành; doanh nghiệp, tổ chức xã hội và cơ quan báo chí là lực lượng hỗ trợ, lan tỏa và bổ sung nguồn lực.

Đây cũng chính là nền tảng để tỉnh huy động hiệu quả nguồn lực về thể chế, chuyên môn, tài chính, nhân lực và truyền thông trong triển khai Chương trình Sức khỏe học đường.

Kết quả, cơ chế phối hợp đa ngành, đa chủ thể trong chăm sóc sức khỏe học sinh được xây dựng từ cấp tỉnh đến cơ sở; nhiều chính sách huy động nguồn lực mang tính đặc thù của địa phương đã được triển khai hiệu quả, tạo điều kiện để mọi học sinh đều được tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khỏe. Bên cạnh đó, chất lượng chăm sóc sức khỏe học sinh từng bước được nâng cao theo hướng toàn diện, lấy phòng bệnh và chăm sóc sức khỏe ban đầu làm trọng tâm; cơ chế phối hợp đã góp phần huy động hiệu quả nguồn lực xã hội và tạo sự đồng thuận của cộng đồng trong chăm sóc sức khỏe học sinh.

DSC06544
Ông Nguyễn Vinh Thanh, Phó Giám đốc Sở GD&ĐT tỉnh Bắc Ninh, chia sẻ kinh nghiệm phối hợp đa ngành và huy động nguồn lực tại địa phương.

Mặc dù đã đạt được nhiều kết quả tích cực, song trước yêu cầu đổi mới giáo dục và chăm sóc sức khỏe học sinh trong giai đoạn mới, thực tiễn tại Bắc Ninh vẫn còn một số vấn đề cần tiếp tục được quan tâm.

Cụ thể, theo ông Nguyễn Vinh Thanh, công tác truyền thông về sức khỏe học đường cần được đầu tư mạnh mẽ hơn để đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới. bảo đảm dinh dưỡng học đường, đặc biệt đối với học sinh học bán trú, vẫn đang đặt ra yêu cầu cần có chính sách hỗ trợ bền vững.

Bên cạnh đó, mặc dù Bắc Ninh đã ban hành nhiều chính sách hỗ trợ thiết thực, trong đó có chính sách hỗ trợ 50% mức đóng bảo hiểm y tế đối với học sinh thuộc diện tự tham gia, song yêu cầu chăm sóc sức khỏe học sinh theo hướng toàn diện và công bằng đặt ra đòi hỏi phải tiếp tục mở rộng nguồn lực an sinh.

Từ thực tiễn triển khai tại địa phương, Bắc Ninh nhận thấy để Chương trình Sức khỏe học đường giai đoạn 2026 - 2035 đạt hiệu quả cao và phát triển bền vững, bên cạnh sự nỗ lực của các địa phương, rất cần sự quan tâm chỉ đạo của Trung ương cùng sự đồng hành của các tổ chức xã hội, doanh nghiệp và cơ quan báo chí trong việc huy động các nguồn lực hỗ trợ.

Trên tinh thần đó, tỉnh Bắc Ninh đề xuất 3 nhiệm vụ ưu tiên cần tập trung huy động nguồn lực trong thời gian tới: huy động nguồn lực để tăng cường truyền thông và xây dựng, nhân rộng mô hình "Trường học an toàn, nâng cao sức khỏe, y tế trường học thân thiện"; huy động nguồn lực để từng bước xây dựng chính sách hỗ trợ bữa ăn bán trú cho học sinh; huy động nguồn lực hỗ trợ đóng bảo hiểm y tế cho học sinh.

DSC06649
Các diễn giả trao đổi về giải pháp tăng cường truyền thông, phối hợp liên ngành và huy động nguồn lực cho sức khỏe học đường.

Trong phiên tọa đàm của hội thảo, các diễn giả trao đổi về nhu cầu tại cơ sở, hạng mục ưu tiên và điều kiện để huy động nguồn lực hiệu quả, tạo tác động bền vững cho sức khỏe học đường, bao gồm:

Thứ nhất, truyền thông phải thường xuyên, có căn cứ khoa học, phù hợp từng nhóm đối tượng, lứa tuổi và địa bàn; trọng tâm là giúp người học hình thành thói quen lành mạnh, giúp phụ huynh, nhà trường nhận biết sớm nguy cơ và tiếp cận đúng dịch vụ chăm sóc sức khỏe học đường.

Thứ hai, cần cơ chế phối hợp liên ngành thực chất: ngành Giáo dục tổ chức trong nhà trường; ngành Y tế bảo đảm chuyên môn; địa phương điều phối; gia đình đồng hành; báo chí cung cấp thông tin tin cậy. Cơ chế phải rõ đầu mối, trách nhiệm và quy trình trao đổi thông tin.

Thứ ba, huy động nguồn lực phải dựa trên nhu cầu, mục tiêu, đối tượng thụ hưởng và chỉ số đánh giá rõ ràng. Nguồn lực có thể là tài chính, chuyên gia, công nghệ, thiết bị hoặc đào tạo. Việc tiếp nhận, sử dụng phải đúng pháp luật, công khai, có giám sát; không gắn tài trợ với can thiệp chuyên môn, thu thập trái phép dữ liệu hay quảng cáo thương mại trong nhà trường.

Thứ tư, cần tiến hành nhân rộng mô hình điểm bữa ăn học đường đảm bảo dinh dưỡng hợp lý kết hợp với hoạt động vận động thể lực một cách hiệu quả. Đây là cơ sở giúp triển khai chương trình Sức khỏe học đường đạt mục tiêu và đảm bảo tính khả thi, bền vững khi triển khai trên diện rộng.

Trong thời gian tới cần hoàn thiện cơ chế phối hợp Giáo dục – Y tế – địa phương: tăng cường giám sát liên ngành; lồng ghép phù hợp các chương trình, đề án; tiếp nhận và sử dụng nguồn lực xã hội. Truyền thông, giáo dục sức khỏe cần có chiều sâu, chuẩn hóa theo độ tuổi, cấp học; đồng thời chú trọng hoạt động thể lực, phòng bệnh, chăm sóc sức khỏe tâm thần.

Hội thảo “Đồng hành – Kiến tạo tương lai: Vì một Việt Nam khỏe mạnh" đã góp phần nhận diện nguồn lực, cơ sở vật chất, phương thức truyền thông; làm rõ kinh nghiệm, giải pháp về dinh dưỡng, hoạt động thể lực và chăm sóc sức khỏe toàn diện cho học sinh./.