08:28 30/09/2026

PGS.TS Nguyễn Ngọc Vũ: Đừng biến tuổi thơ của con thành một khóa học tiếng Anh

Tiếng Anh đang ngày càng hiện diện trong hành trình học tập của trẻ em. Từ những bài hát, câu chuyện, bộ phim hoạt hình bằng tiếng Anh dành cho trẻ nhỏ, đến các lớp ngoại ngữ, trung tâm đào tạo và những ứng dụng học tập trên nền tảng số, cơ hội để trẻ tiếp xúc với ngôn ngữ thứ hai ngày càng đa dạng.

Nhiều gia đình cũng chủ động cho con làm quen với tiếng Anh từ sớm, với mong muốn trẻ có thêm một công cụ để học tập, giao tiếp và tiếp cận tri thức trong tương lai.

Tuy nhiên, cùng với sự gia tăng của các lựa chọn học tập là không ít băn khoăn của cha mẹ: Trẻ nên bắt đầu học tiếng Anh từ đâu? Nên ưu tiên nghe và nói hay đồng thời rèn đọc, viết? Việc cho trẻ học từ vựng, ngữ pháp và làm bài tập quá sớm có ảnh hưởng đến khả năng giao tiếp? Và cha mẹ cần đồng hành như thế nào để việc học tiếng Anh không trở thành thêm một áp lực đối với trẻ?

dasd
TIT 1

Trong thực tế, không khó để bắt gặp những đứa trẻ có thể ghi nhớ khá nhiều từ vựng, hoàn thành các bài tập ngữ pháp nhưng lại ngập ngừng khi nghe một câu tiếng Anh tự nhiên hoặc thiếu tự tin khi giao tiếp.

Để có thêm góc nhìn chuyên môn về vấn đề này, Tạp chí Trẻ Em Việt Nam đã có dịp trao đổi với PGS.TS. Nguyễn Ngọc Vũ, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Ngoại ngữ - Tin học TP. HCM (HUFLIT). 

pgs ts nguye ngoc vu
PGS.TS Nguyễn Ngọc Vũ, Phó Hiệu trưởng, Trường Đại học Ngoại ngữ - Tin học,TP. HCM

PV: Thưa PGS.TS. Nguyễn Ngọc Vũ, dưới góc độ chuyên môn, khi một đứa trẻ bắt đầu học tiếng Anh, cha mẹ nên cho con làm quen từ đâu? Có nên ưu tiên nghe – nói trước rồi mới đến đọc – viết, hay trẻ có thể phát triển đồng thời cả bốn kỹ năng?

PGS.TS. Nguyễn Ngọc Vũ: Nếu nhìn từ cả nghiên cứu lẫn trải nghiệm của chính gia đình tôi, tôi thiên về việc cho trẻ tiếp xúc với ngôn ngữ nói rất sớm, nhưng theo cách tự nhiên và có ý nghĩa, chứ không phải bắt một em bé “ngồi học tiếng Anh”.

Tôi đã làm điều đó với cả con gái và con trai mình ngay từ khi các cháu mới chào đời. Khi các con còn rất nhỏ, tiếng Anh xuất hiện trong những hoạt động bình thường ở nhà: gọi tên đồ vật,chỉ vào tranh, hỏi – đáp, thực hiện hành động, chơi với đồ chơi, nói về những thứ đang xảy ra trước mắt. Tôi không bắt đầu bằng bảng chữ cái, quy tắc ngữ pháp hay danh sách từ để học thuộc.

Tôi còn giữ một video quay lúc con gái tôi chưa đầy 3 tuổi, trong đó tôi tương tác với cháu bằngtiếng Anh tại nhà theo tinh thần của Direct Method. Con gái tôi hiện đã 20 tuổi và đồng ý để tôi công bố lại video này trong bài phỏng vấn quý phụ huynh có thể xem qua.

"VIDEO TƯ LIỆU: PGS.TS. Nguyễn Ngọc Vũ tương tác bằng tiếng Anh với con gái tại nhà khi cháu chưa đầy 3 tuổi, theo hướng tiếp cận Direct Method: sử dụng tiếng Anh trực tiếp, gắn ngôn ngữ với đồ vật, hành động và tương tác hỏi – đáp. Con gái ông hiện 20 tuổi và đã đồng ý"

Theo tôi, điều quan trọng trong cách làm đó là tôi cố gắng tạo mối liên hệ trực tiếp giữa tiếng Anh và thế giới mà đứa trẻ đang nhìn thấy hoặc đang hành động trong đó. Chẳng hạn, thay vì nói “ball nghĩa là quả bóng”, ta có thể cầm quả bóng lên, hỏi về nó, đưa nó cho trẻ, lăn nó đi và sử dụng từ ball trong nhiều câu khác nhau. Đứa trẻ dần kết nối âm thanh với vật thể, hành động và ý nghĩa.

Đó cũng là nguyên tắc cổ điển của Direct Method: sử dụng ngôn ngữ đích, dạy từ cụ thể thông qua đồ vật, hình ảnh và minh họa, ưu tiên nghe – nói và sử dụng hỏi – đáp để hình thành giao tiếp.

Nhưng tôi muốn nhấn mạnh: đây là trải nghiệm của gia đình tôi, không phải một thí nghiệm khoa học chứng minh rằng cứ làm giống tôi thì mọi trẻ đều có kết quả giống nhau. Điều phù hợp với bằng chứng khoa học hơn là: trẻ nhỏ có khả năng tiếp nhận hai ngôn ngữ từ rất sớm; việc tiếp xúc hai ngôn ngữ không tự thân gây rối loạn hay làm trẻ “loạn ngôn ngữ”.

Vì vậy, với trẻ rất nhỏ, tôi ưu tiên nghe – hiểu – tương tác – nói, nhưng không coi đó là một chuỗi cứng nhắc. Khi trẻ bước vào tuổi đọc viết, bốn kỹ năng hoàn toàn có thể được tích hợp với nhau.

tít 2

PV: Ở mỗi độ tuổi, từ mầm non, tiểu học đến THCS, mục tiêu học tiếng Anh của trẻ nên khác nhau như thế nào? Cha mẹ cần căn cứ vào đâu để đặt kỳ vọng phù hợp với con?

PGS.TS. Nguyễn Ngọc Vũ: Tôi nghĩ cha mẹ nên phân biệt rất rõ giữa “bắt đầu sớm” và “học trước chương trình”. Hai điều này hoàn toàn khác nhau.

Con tôi tiếp xúc tiếng Anh từ lúc mới sinh không có nghĩa là tôi cho cháu học ngữ pháp của học sinh tiểu học khi mới 3 tuổi. “Sớm” ở đây có nghĩa là sớm có trải nghiệm với ngôn ngữ, chứ không phải sớm chịu áp lực học thuật.

Với trẻ mầm non, tôi ưu tiên ba điều: nghe quen, hiểu dần và thích tương tác. Một em bé có thể hiểu một yêu cầu đơn giản, phản ứng đúng, chỉ đúng đồ vật hay trả lời một từ – về mặt tiếp thu ngôn ngữ, đó đã là thành công.

Đến tiểu học, trẻ có thể từng bước kết nối nghe – nói với chữ viết, đọc truyện ngắn, viết câu đơn giản, mở rộng vốn từ và bắt đầu nhận ra các quy luật ngôn ngữ.

Đến THCS, trẻ cần chuyển dần từ “học tiếng Anh” sang dùng tiếng Anh để làm việc gì đó: tìm thông tin, đọc, trình bày quan điểm, viết, thuyết trình và giao tiếp.

Một điều nghiên cứu hiện nay cho thấy khá rõ là tuổi bắt đầu không phải yếu tố duy nhất. Trong một nghiên cứu về trẻ học L2, lượng tiếp xúc hiện tại với ngôn ngữ có quan hệ với kết quả mạnh hơn tuổi bắt đầu ở nhiều lĩnh vực được khảo sát.

Do đó, tôi không muốn phụ huynh nghe câu chuyện của gia đình tôi rồi kết luận rằng: “Nếu con tôi không học từ lúc sơ sinh thì đã muộn.” Hoàn toàn không phải như vậy.

tít 1

PV: Nhiều trẻ có vốn từ khá tốt, làm bài ngữ pháp tương đối ổn nhưng khi gặp một tình huống giao tiếp lại không biết nói gì hoặc không nghe kịp người đối diện. Vì sao lại xuất hiện khoảng cách giữa “kiến thức tiếng Anh” và “khả năng sử dụng tiếng Anh” như vậy?

PGS.TS. Nguyễn Ngọc Vũ: Từ kinh nghiệm dạy học của tôi và cả khi dạy hai con, tôi thấy có một khác biệt rất quan trọng giữa biết một đơn vị ngôn ngữ và sử dụng được đơn vị đó trong thời gian thực.

Nếu tôi đưa một tấm thẻ và hỏi trẻ từ này nghĩa là gì, trẻ có thể có nhiều thời gian để nhớ. Nhưng trong hội thoại, người đối diện không dừng lại 30 giây chờ chúng ta chia động từ.

Giao tiếp đòi hỏi trẻ phải nghe, phân đoạn chuỗi âm thanh, hiểu ý, quyết định mình muốn nói gì, tìm từ, tạo câu và phát âm gần như đồng thời.

Đó là lý do khi con tôi còn rất nhỏ, tôi không chỉ hỏi “What is this?” để cháu gọi tên đồ vật. Tôi cố gắng để từ đó xuất hiện trong một chuỗi tương tác có ý nghĩa. Học ball không nên kết thúc ở việc nói được “ball”; đứa trẻ cần nghe và sử dụng nó trong các tình huống khác nhau.

Nghiên cứu về môi trường ngôn ngữ ở trẻ nhỏ cũng cho thấy không chỉ số lượng lời nói trẻ được nghe, mà chất lượng của ngữ cảnh giúp trẻ suy ra ý nghĩa có quan hệ với sự phát triển vốn từ sau này.

Cho nên tôi thường phân biệt hai câu: “Con biết từ này chưa?” và “Con dùng từ này được chưa?” Hai câu hỏi đó không giống nhau.

Quan niệm “thương cho roi cho vọt” là một quan niệm đã tồn tại lâu đời trong đời sống gia đình Việt Nam. Tuy nhiên, trong bối cảnh hiện nay, quan niệm này cần được nhìn nhận lại cả dưới góc độ kho (5)

HỌC NHIỀU NHƯNG VÌ SAO TRẺ VẪN NGẠI NGHE, NGẠI NÓI?

PV: Việc học tiếng Anh quá thiên về ghi nhớ từ vựng, ngữ pháp và làm bài tập có thể ảnh hưởng như thế nào đến khả năng nghe, nói và sự tự tin của trẻ? Cha mẹ có nên sửa ngay mọi lỗi phát âm, từ vựng, ngữ pháp của con?

PGS.TS. Nguyễn Ngọc Vũ: Không. Ngay trong quá trình tôi dạy con ở nhà, mục tiêu của tôi không phải là biến mọi cuộc trò chuyện thành một bài kiểm tra. Nếu trẻ đang cố gắng truyền đạt một ý nghĩa mà người lớn cứ ngắt lại sau từng câu để sửa, thì cuối cùng trẻ có thể học được một điều tai hại: nói tiếng Anh là một hoạt động có rủi ro.

Điều đó không có nghĩa là bỏ qua độ chính xác. Tôi vẫn quan tâm tới phát âm, từ vựng và cấu trúc. Nhưng phải lựa chọn lúc nào sửa, sửa cái gì và sửa bằng cách nào.

Với trẻ nhỏ, nhiều khi tôi chỉ cần nói lại câu đúng một cách tự nhiên. Trẻ nói chưa hoàn chỉnh, người lớn phản hồi lại bằng mẫu đúng rồi tiếp tục tương tác. Trẻ vẫn nhận được mẫu ngôn ngữ chính xác mà dòng giao tiếp không bị phá vỡ.

Theo tôi, cha mẹ nên tự hỏi: Lúc này mục tiêu là giúp con diễn đạt hay mục tiêu là luyện một cấu trúc cụ thể?

Nếu đang giao tiếp, hãy ưu tiên ý nghĩa. Nếu đang luyện một điểm cụ thể, có thể chú ý nhiều hơn tới độ chính xác.

PV: Với trẻ nhỏ, việc tiếp xúc tiếng Anh qua bài hát, truyện, phim hoạt hình hoặc các nội dung trên nền tảng số có thể hỗ trợ việc học đến đâu? Cha mẹ cần làm gì để trẻ không chỉ “tiếp xúc” mà thực sự có cơ hội sử dụng ngôn ngữ?

PGS.TS. Nguyễn Ngọc Vũ:  Tất cả những nguồn này đều có giá trị, nhưng tôi muốn phân biệt hai khái niệm: exposure – được tiếp xúc và interaction – thực sự tương tác.

Khi hai con tôi còn nhỏ, tôi không muốn tiếng Anh chỉ đến từ TV hay máy tính. Một ưu thế rất lớn của việc cha mẹ cùng tham gia là chúng ta có thể biến ngôn ngữ thành tương tác hai chiều.

Con nhìn một vật, tôi nói. Tôi hỏi, con phản ứng. Con nói, tôi thay đổi câu hỏi theo câu trả lời của con. Máy ghi âm hay video không làm được đầy đủ điều đó.

Các nghiên cứu về trẻ song ngữ cũng cho thấy lượng lời nói thực sự hướng tới trẻ trong tương tác tự nhiên dự báo kết quả ngôn ngữ tốt hơn những ước lượng chung về việc trẻ “được tiếp xúc” với ngôn ngữ bao nhiêu.

Vì vậy, tôi không phản đối cho trẻ xem một chương trình tiếng Anh tốt. Nhưng sau 10 phút xem, nếu cha mẹ có thể dành thêm 5 phút để hỏi:

“Who is this?” “What happened?” “Which one do you like?” “Show me…” “Can you do the same thing?” thì 5 phút đó có thể rất có giá trị.

Nói một cách đơn giản: Đừng chỉ bật tiếng Anh cho con nghe. Hãy tạo cơ hội để tiếng Anh đi qua lại giữa con và mọi người xung quanh.

minh hoa 1

PV: Theo thầy, đâu là những sai lầm cha mẹ thường mắc phải khi đồng hành cùng con học tiếng Anh, dù xuất phát từ mong muốn giúp con tiến bộ? Đặc biệt, làm thế nào để cha mẹ không biến việc học ngoại ngữ thành một áp lực đối với trẻ?

PGS.TS. Nguyễn Ngọc Vũ: Có một điều tôi đặc biệt muốn chia sẻ từ kinh nghiệm làm cha. Tôi cũng là người dạy ngoại ngữ, nên về lý thuyết tôi có thể dễ dàng biến gia đình thành một lớp học. Nhưng nếu cha lúc nào cũng là “thầy giáo”, đứa trẻ sẽ rất mệt. Vì thế, điều tôi thấy quan trọng là đưa tiếng Anh vào đời sống, thay vì đưa cả lớp học vào gia đình.

Sai lầm phổ biến của phụ huynh là:

  • Quá chú ý đến số lượng từ trẻ thuộc;
  • Liên tục kiểm tra;
  • So sánh với trẻ khác;
  • Sửa mọi lỗi;
  • Hoặc mua rất nhiều khóa học nhưng trẻ lại có quá ít cơ hội thực sự sử dụng ngôn ngữ.

Tôi cũng không muốn câu chuyện “tôi dạy con từ khi mới sinh” vô tình trở thành một áp lực mới cho phụ huynh. Không phải gia đình nào cũng có điều kiện, năng lực tiếng Anh hay quỹ thời gian giống nhau.

Khoa học cũng cho thấy kết quả ngôn ngữ của trẻ liên quan đến cả lượng và chất lượng đầu vào, và các gia đình có thể tạo ra những môi trường ngôn ngữ rất khác nhau.

Do đó, mục tiêu không phải là bắt chước một gia đình khác. Mục tiêu là xây dựng một môi trường phù hợp và bền vững cho chính gia đình mình.

TIT 2

Đằng sau một đứa trẻ ngại nói tiếng Anh có thể không phải là sự thiếu năng khiếu. Đôi khi, vấn đề nằm ở cách người lớn lựa chọn mục tiêu, phương pháp và kỳ vọng.

 Khi trẻ được yêu cầu “phải nói đúng”, “phải viết đúng”, “phải nhớ thật nhiều từ” quá sớm, liệu chúng ta có vô tình khiến ngoại ngữ trở thành một áp lực thay vì một công cụ giao tiếp?

PV: Nếu cha mẹ không giỏi tiếng Anh hoặc không có nhiều thời gian, họ có thể đồng hành với con như thế nào? Có nhất thiết cha mẹ phải trở thành một “giáo viên tiếng Anh” tại nhà hay không?

PGS.TS. Nguyễn Ngọc Vũ: Tôi là một trường hợp khá đặc biệt vì chuyên môn của tôi là ngôn ngữ và giảng dạy tiếng Anh. Vì vậy, tôi có thể trực tiếp tương tác với các con hoàn toàn bằng tiếng Anh trong nhiều tình huống.

Nhưng tôi không muốn phụ huynh xem video của tôi rồi nghĩ: “Tôi không nói tiếng Anh tốt như vậy nên tôi không thể giúp con.”

Cha mẹ không cần phải trở thành giáo viên tiếng Anh của con.

Nếu tiếng Anh của mình chưa tốt, cha mẹ vẫn có thể làm rất nhiều việc quan trọng: lựa chọn nguồn học phù hợp, đọc sách cùng con, nghe audio cùng con, hỏi con kể lại, tạo thời gian sử dụng tiếng Anh, đưa con đến môi trường có giao tiếp thực và – điều rất quan trọng – thể hiện thái độ tích cực với việc học.

3

Thậm chí có thể nói: “Bố chưa biết từ này. Con chỉ cho bố nhé.” Lúc đó đứa trẻ từ người luôn bị kiểm tra trở thành người có kiến thức để chia sẻ. Đó là một trải nghiệm tâm lý rất khác.

PV: Nếu xây dựng một cách tiếp cận đơn giản cho cha mẹ, thầy sẽ gợi ý trẻ phát triển nghe – nói – đọc – viết theo từng giai đoạn như thế nào? Có nguyên tắc nào cha mẹ có thể ghi nhớ để tránh dạy con quá sức?

PGS.TS. Nguyễn Ngọc Vũ: Từ trải nghiệm dạy con của mình, tôi sẽ diễn đạt thành: NGHE → HIỂU → TƯƠNG TÁC → SỬ DỤNG → MỞ RỘNG. Không phải: NGHE XONG → NÓI XONG → ĐỌC XONG → VIẾT XONG.

Trẻ có thể phát triển các kỹ năng đan xen nhau.

Với một em bé chưa đầy 3 tuổi như trong video của con gái tôi, phần lớn hoạt động đương nhiên xoay quanh ngôn ngữ nói và đồ vật, hành động, ngữ cảnh ngay trước mắt. Khi trẻ lớn hơn, cùng một nguyên tắc đó có thể chuyển sang sách truyện: nghe câu chuyện, nhìn chữ, trao đổi về nội dung, kể lại và sau đó viết.

Tôi muốn cha mẹ nhớ bốn từ: VỪA SỨC – CÓ NGHĨA – TƯƠNG TÁC – ĐỀU ĐẶN

Nếu một hoạt động đáp ứng được bốn điều đó, tôi nghĩ chúng ta đang đi đúng hướng.

TIT 3

Nếu mục tiêu cuối cùng của việc học ngoại ngữ là để trẻ có thể hiểu và sử dụng ngôn ngữ trong đời sống, thì có lẽ điều quan trọng không chỉ là trẻ học bao nhiêu giờ mỗi tuần, mà còn là trẻ được học như thế nào. Từ những phân tích trên, câu hỏi đặt ra là: cha mẹ có thể bắt đầu từ đâu và đồng hành với con ra sao mà không biến mình thành một “giáo viên thứ hai” trong gia đình?

PV: Nếu mỗi ngày chỉ có khoảng 15–30 phút, cha mẹ có thể cùng con thực hiện những hoạt động nào để vừa duy trì thói quen tiếng Anh, vừa tạo cảm giác thoải mái, không biến thời gian này thành một “giờ học” bắt buộc?

PGS.TS. Nguyễn Ngọc Vũ: Nếu chỉ có 15–30 phút mỗi ngày, cha mẹ nên làm gì? Tôi sẽ không cố tái tạo một tiết học. Nếu chỉ có 15 phút, tôi đề nghị một công thức rất đơn giản:

5 phút INPUT – 5 phút INTERACTION – 5 phút USE

5 phút đầu: cùng nghe, xem hoặc đọc một nội dung ngắn.

5 phút tiếp theo: tương tác với nội dung đó – chỉ, hỏi, đoán, chọn, đóng vai.

5 phút cuối: để trẻ dùng ngôn ngữ: nói một vài câu, kể lại, vẽ rồi mô tả, thu âm hoặc viết một câu tùy độ tuổi.

Và thực ra cách tôi dạy con khi còn rất nhỏ còn đơn giản hơn: không nhất thiết phải dành riêng 15 phút gọi là “giờ tiếng Anh”.

Quan niệm “thương cho roi cho vọt” là một quan niệm đã tồn tại lâu đời trong đời sống gia đình Việt Nam. Tuy nhiên, trong bối cảnh hiện nay, quan niệm này cần được nhìn nhận lại cả dưới góc độ kho (6)

Có thể tiếng Anh xuất hiện khi chơi đồ chơi, ăn trái cây, mặc quần áo, đi tắm, xem tranh hay đi dạo.

Điều này gần với bản chất của Direct Method ở điểm: ngôn ngữ được gắn trực tiếp với đối tượng, hành động và tình huống, thay vì lúc nào cũng phải đi qua dịch thuật và giải thích.

Và nghiên cứu phát triển ngôn ngữ cũng ủng hộ tầm quan trọng của tương tác ngôn ngữ phong phú, có chất lượng và được duy trì qua thời gian, thay vì chỉ tính số phút trẻ “học”.

PV: Cuối cùng, nếu gửi một thông điệp ngắn gọn tới các bậc cha mẹ đang đồng hành cùng con học tiếng Anh, thầy muốn nhắn nhủ điều gì để cha mẹ vừa giúp con tiến bộ, vừa giữ được sự hứng thú và tự tin của trẻ?

PGS.TS. Nguyễn Ngọc Vũ: Nếu gửi một thông điệp cho các bậc cha mẹ, có lẽ tôi sẽ nói từ chính trải nghiệm hơn 20 năm làm cha của mình.

Tôi bắt đầu nói và dạy tiếng Anh cho cả hai con từ khi các cháu mới chào đời. Tôi vẫn còn video con gái lúc chưa đầy 3 tuổi tương tác với tôi bằng tiếng Anh ở nhà. Bây giờ cháu đã 20 tuổi. Khi xem lại những hình ảnh đó, điều tôi thấy có giá trị nhất không phải là một đứa trẻ 3 tuổi biết được bao nhiêu từ tiếng Anh.

Điều có giá trị hơn là tiếng Anh lúc ấy là một phần của sự tương tác giữa cha và con: cùng nhìn một vật, cùng chơi, cùng hỏi, cùng trả lời và cùng hiểu nhau.

BR KET

Khoa học về phát triển ngôn ngữ ngày nay cho chúng ta biết rằng trẻ nhỏ có thể tiếp xúc với nhiều ngôn ngữ từ rất sớm; song ngữ không tự thân gây ra rối loạn ngôn ngữ, và lượng cũng như chất lượng tương tác với mỗi ngôn ngữ đều có vai trò đối với sự phát triển của trẻ.

Nhưng sau hơn hai mươi năm, bài học lớn nhất của cá nhân tôi lại rất đơn giản: Cha mẹ không cần biến tuổi thơ của con thành một khóa học tiếng Anh kéo dài. Hãy làm cho tiếng Anh trở thành một phương tiện để cha mẹ và con cùng chơi, cùng khám phá, cùng giao tiếp và cùng trải nghiệm thế giới.

Trẻ có cả một chặng đường rất dài để hoàn thiện từ vựng, ngữ pháp, phát âm, đọc và viết. Điều chúng ta nên cố gắng giữ từ những năm đầu tiên là sự tò mò, sự tự tin và mong muốn sử dụng ngôn ngữ.

LỜI KẾT

Trong một thế giới ngày càng kết nối, ngoại ngữ không chỉ là một môn học trong nhà trường mà còn là chiếc cầu đưa trẻ đến gần hơn với tri thức, văn hóa và những cơ hội vượt ra ngoài biên giới. Nhưng trước khi có thể tự tin bước vào một thế giới rộng lớn, trẻ cần có một hành trình học tập phù hợp với chính mình – bắt đầu từ khả năng lắng nghe, mạnh dạn cất lời, rồi từng bước đọc, viết và sử dụng ngôn ngữ để diễn đạt suy nghĩ.

Như những chia sẻ của PGS.TS. Nguyễn Ngọc Vũ, điều quan trọng không phải là trẻ biết tiếng Anh sớm đến đâu, mà là trẻ có thể sử dụng tiếng Anh như một công cụ để học hỏi, kết nối và khám phá thế giới đến mức nào.

Bởi sau cùng, mục tiêu của việc học một ngôn ngữ mới không chỉ là nói được thêm một thứ tiếng, mà là giúp trẻ có thêm một cách để nhìn thế giới – rộng hơn, cởi mở hơn và tự tin hơn trên hành trình trở thành một công dân trong một thế giới ngày càng không có biên giới.