06:00 05/08/2026

Nuôi con bằng sữa mẹ: Cùng chia sẻ trách nhiệm

Bài 2: Vì sao tỷ lệ trẻ bú mẹ hoàn toàn 6 tháng đầu đời vẫn chưa đạt mục tiêu?

Không ít bà mẹ mong muốn nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ trong 6 tháng đầu đời, nhưng mong muốn ấy nhiều khi phải nhường chỗ cho áp lực cơm áo, công việc và những thiếu hụt trong hệ thống hỗ trợ.

LTS: Mặc dù Việt Nam đã đạt nhiều tiến bộ trong chăm sóc sức khỏe bà mẹ và trẻ em, tỷ lệ trẻ được nuôi hoàn toàn bằng sữa mẹ trong 6 tháng đầu vẫn chưa đạt mục tiêu toàn cầu và mục tiêu đề ra trong Chiến lược quốc gia.

Trong bối cảnh Chiến dịch của Tuần lễ Thế giới Nuôi con bằng sữa mẹ năm 2026 kêu gọi các quốc gia đánh giá tiến độ thực hiện các mục tiêu toàn cầu về dinh dưỡng, đồng thời nhấn mạnh tác động của nuôi con bằng sữa mẹ đối với dinh dưỡng, an ninh lương thực và giảm nghèo, Tạp chí Trẻ em Việt Nam khởi đăng tuyến bài “Nuôi con bằng sữa mẹ: Cùng chia sẻ trách nhiệm”, tập trung làm rõ vai trò đặc biệt của sữa mẹ trong 6 tháng đầu đời - giai đoạn "cửa sổ vàng" quyết định nền tảng sức khỏe, miễn dịch, thể chất và trí tuệ của trẻ.

Bên cạnh đó, tuyến bài cũng nhìn lại thực trạng nuôi con bằng sữa mẹ tại Việt Nam, chỉ ra những rào cản khiến nhiều bà mẹ chưa thể duy trì việc cho con bú theo khuyến cáo, đồng thời ghi nhận các mô hình hỗ trợ hiệu quả và đề xuất giải pháp nhằm bảo vệ, khuyến khích, thúc đẩy nuôi con bằng sữa mẹ.

Qua đó, khẳng định nuôi con bằng sữa mẹ không chỉ là lựa chọn hay trách nhiệm riêng của người mẹ mà cần sự đồng hành của gia đình, đơn vị sử dụng lao động và toàn xã hội.

Bài 2: Vì sao tỷ lệ trẻ bú mẹ hoàn toàn 6 tháng đầu đời vẫn chưa đạt mục tiêu?

***

Theo khuyến cáo của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) và Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc (UNICEF), trẻ cần được bú mẹ trong vòng một giờ đầu sau sinh, bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu đời và tiếp tục được bú mẹ đến 24 tháng tuổi hoặc lâu hơn. Tại Việt Nam, công tác thúc đẩy nuôi con bằng sữa mẹ đã đạt nhiều kết quả tích cực. 

Theo Tổng điều tra Dinh dưỡng toàn quốc 2019–2020 của Viện Dinh dưỡng, tỷ lệ trẻ được nuôi bằng sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu đã tăng từ 22,7% năm 2015 lên 45,4% vào năm 2020, gần gấp đôi chỉ sau 5 năm. Kết quả này phản ánh hiệu quả của nhiều chính sách và giải pháp đồng bộ như chế độ nghỉ thai sản 6 tháng, Nghị định 100/2014/NĐ-CP về kinh doanh và sử dụng sản phẩm dinh dưỡng dùng cho trẻ nhỏ, việc triển khai các bệnh viện thực hành nuôi con bằng sữa mẹ xuất sắc cũng như mạng lưới tư vấn, hỗ trợ ngày càng được mở rộng.

Dẫu vậy, những con số này cũng cho thấy vẫn còn nhiều việc phải làm. Hiện nay, hơn một nửa trẻ em Việt Nam vẫn chưa được bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu đời, trong khi theo Bộ Y tế, trên 80% bà mẹ không thể duy trì việc cho con bú đến khi trẻ đủ 24 tháng tuổi. Các nghiên cứu quốc tế cũng chỉ ra rằng chỉ khi tỷ lệ nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn đạt trên 70%, quốc gia mới có thể giảm đáng kể gánh nặng bệnh tật và chi phí y tế. Điều đó cho thấy mục tiêu đưa việc nuôi con bằng sữa mẹ trở thành một thực hành phổ biến vẫn còn không ít rào cản cần được tháo gỡ.

me1
WHO kêu gọi tăng cường hỗ trợ nuôi con bằng sữa mẹ và hệ thống y tế để mang lại cho trẻ em một khởi đầu khỏe mạnh trong cuộc sống. (Ảnh: Baby-chick)

Khi người mẹ bất lực trước hành trình nuôi con bằng sữa mẹ

Là công nhân đang làm việc tại một doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Tây Ninh, chị Trần Thị Mỹ Duyên (trú tại xã Mỹ An, tỉnh Tây Ninh) cho biết, sau khi kết thúc 6 tháng nghỉ thai sản, chị quay trở lại làm việc nhưng vẫn cố gắng duy trì nguồn sữa mẹ cho con. Mỗi ngày, chị tranh thủ hút sữa đúng cữ, bảo quản cẩn thận để mang về cho con sử dụng.

"Từ khi đi làm trở lại, quỹ thời gian eo hẹp hơn rất nhiều nhưng tôi luôn cố gắng sắp xếp để hút sữa đúng giờ rồi mang về cho con. Tôi mong các mẹ, nếu điều kiện cho phép, hãy cố gắng nuôi con bằng sữa mẹ càng lâu càng tốt. Dù có vất vả hơn một chút nhưng nhìn con khỏe mạnh, phát triển tốt thì tôi thấy mọi cố gắng đều xứng đáng", chị Mỹ Duyên chia sẻ.

Tuy nhiên, không phải bà mẹ nào cũng có điều kiện duy trì việc nuôi con bằng sữa mẹ sau khi trở lại công việc. Chị Lê Thị Dung (trú tại phường Thanh Xuân, TP. Hà Nội) cho biết, do đã nghỉ làm gần 1 tháng trước khi sinh nên khi con mới hơn 3 tháng tuổi, chị buộc phải quay lại cơ quan. Để con thích nghi dần, chị tập cho bé làm quen với sữa công thức khoảng nửa tháng trước khi đi làm.

Tuy nhiên, khoảng cách từ nhà đến nơi làm việc hơn 10 cây số, công ty không có tủ lạnh để bảo quản sữa, chị cũng không thể tranh thủ về nhà vào buổi trưa. Nhiều lần sữa căng tức, chị đành phải vắt bỏ. Trong khi đó, em bé ở nhà dần quen với việc bú bình. Chỉ sau khoảng một tháng đi làm, áp lực công việc cùng việc con bú mẹ ít hơn khiến nguồn sữa của chị giảm dần. Khi chưa tròn 6 tháng tuổi, bé gần như không còn bú mẹ nữa.

Cũng rơi vào hoàn cảnh tương tự, chị Trần Khánh Ly (trú tại phường Cẩm Lệ, TP. Đà Nẵng) cho biết việc phải trở lại công việc sớm khiến chị không thể tiếp tục nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ như mong muốn. Điều đó khiến chị luôn day dứt.

"Có những đêm tôi mất ngủ vì cảm thấy mình chưa làm tròn thiên chức của một người mẹ. Tôi cũng lo con sẽ thiệt thòi khi không còn được mẹ ôm ấp, vỗ về và bú mẹ như trước", chị Khánh Ly tâm sự.

Ảnh màn hình 2026-08-03 lúc 14.12.13
Theo khảo sát "Nuôi con bằng sữa mẹ" do VnExpress thực hiện, có tới 48,3% bà mẹ cho biết hoàn cảnh gia đình và áp lực công việc là nguyên nhân khiến họ không thể duy trì việc nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn theo khuyến cáo.

Nhiều rào cản khiến hành trình nuôi con bằng sữa mẹ bị gián đoạn

Theo Millieu Insight, có ba yếu tố chính khiến hơn một nửa số trẻ em tại Việt Nam có thể bị thiếu hụt các chất dinh dưỡng thiết yếu có trong sữa mẹ. Đầu tiên là thời gian: gần 60% bà mẹ tại Việt Nam trở lại làm việc sớm, trước 6 tháng sau khi sinh con. Nhiều người gặp khó khăn trong việc duy trì việc cho con bú, không phải do thiếu ý chí, mà là do thiếu sự hỗ trợ. Kế đến là vấn đề sức khỏe. Cứ ba ca sinh thì có một ca sinh mổ, có thể ảnh hưởng đến cả sự phát triển hệ vi sinh đường ruột của trẻ và khả năng phục hồi, cho con bú hiệu quả của người mẹ.

Trao đổi với PV Tạp chí Trẻ em Việt Nam, TS.BS. Hoàng Thị Đức Ngàn, phụ trách Khoa Dinh dưỡng Cộng đồng, Viện Dinh dưỡng, cho rằng áp lực mưu sinh là một trong những rào cản lớn nhất đối với việc nuôi con bằng sữa mẹ hiện nay. Theo bà, nhiều bà mẹ, đặc biệt là lao động trong khu vực phi chính thức, lao động tự do hoặc kinh doanh nhỏ lẻ, không được hưởng đầy đủ chế độ thai sản nên buộc phải quay trở lại làm việc khi con mới 2–4 tháng tuổi, khiến việc duy trì cho con bú mẹ hoàn toàn gặp nhiều khó khăn.

Bên cạnh đó, kiến thức và kỹ năng thực hành nuôi con bằng sữa mẹ của không ít bà mẹ vẫn còn hạn chế. Nhiều trường hợp cho con bú sai tư thế, trẻ ngậm bắt vú không đúng khiến mẹ bị đau, nứt núm vú, từ đó lầm tưởng mình bị "ít sữa" hoặc "mất sữa" và vội vàng bổ sung sữa công thức. Trong khi đó, theo chuyên gia, phần lớn những khó khăn này hoàn toàn có thể được khắc phục nếu người mẹ được hướng dẫn đúng kỹ thuật và duy trì việc cho trẻ bú thường xuyên.

Ngoài ra, sự thiếu đồng hành từ gia đình và môi trường làm việc cũng là một nguyên nhân quan trọng. Nhiều bà mẹ mong muốn duy trì nguồn sữa cho con nhưng không có điều kiện vắt và bảo quản sữa do nơi làm việc thiếu phòng vắt trữ sữa, không được bố trí thời gian phù hợp hoặc chưa nhận được sự chia sẻ, hỗ trợ từ người thân. Thậm chí, không ít người còn phải đối mặt với những quan niệm sai lầm như "bú mẹ không đủ chất" hay "sữa mẹ không tốt", khiến họ càng dễ từ bỏ việc nuôi con bằng sữa mẹ trước thời điểm khuyến cáo.

3-tinh-ho-dsc08620-17854885292171203936715
Nuôi con bằng sữa mẹ không chỉ là lựa chọn tối ưu về sức khỏe mà còn là giải pháp tiết kiệm và hiệu quả nhất.

TS.BS. Hoàng Thị Đức Ngàn cũng cho biết, hoạt động quảng cáo và tiếp thị sữa công thức đang là một trong những yếu tố tác động không nhỏ đến quyết định nuôi con bằng sữa mẹ của nhiều gia đình. Theo báo cáo của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), tại Việt Nam vẫn xuất hiện nhiều thông điệp quảng cáo thiếu cơ sở khoa học, như khẳng định sữa công thức giúp trẻ cao hơn, thông minh hơn hay phát triển vượt trội. Những chiến dịch tiếp thị này thường đánh trúng tâm lý lo lắng của các bậc cha mẹ, đặc biệt là những bà mẹ phải quay trở lại làm việc sớm sau sinh, khiến nhiều người lựa chọn bổ sung hoặc thay thế sữa mẹ bằng sữa công thức dù chưa thực sự cần thiết. 

Theo chuyên gia, hệ quả không chỉ là trẻ mất đi nguồn sữa mẹ quý giá mà nhiều gia đình, nhất là các hộ có thu nhập thấp, còn phải gánh thêm chi phí mua sữa công thức; về lâu dài, nguy cơ trẻ mắc bệnh nhiều hơn cũng đồng nghĩa với việc gia đình phải đối mặt với chi phí chăm sóc và điều trị y tế cao hơn.

Mất sữa sớm, trẻ mất đi nguồn miễn dịch quý giá

Theo TS.BS. Hoàng Thị Đức Ngàn, về mặt sinh lý, sữa mẹ được tạo ra theo cơ chế "cung – cầu", nghĩa là trẻ bú càng thường xuyên, đúng cách thì cơ thể người mẹ càng tiết nhiều sữa. Ngược lại, khi người mẹ phải đi làm sớm, không thể cho con bú trực tiếp hoặc không duy trì việc vắt sữa đúng cữ, quá trình kích thích tuyến sữa bị gián đoạn, lượng sữa sẽ giảm dần và có thể mất hẳn chỉ sau một thời gian ngắn. Bên cạnh đó, việc trẻ làm quen với bú bình quá sớm cũng khiến trẻ giảm nhu cầu bú mẹ trực tiếp, tạo thành vòng luẩn quẩn khiến nguồn sữa ngày càng ít đi.

Theo chuyên gia, việc ngừng bú mẹ sớm không chỉ ảnh hưởng đến quá trình tiết sữa của người mẹ mà còn tác động trực tiếp đến sức khỏe và sự phát triển của trẻ. Nhiều trẻ phải chuyển sang sử dụng sữa công thức trước thời điểm khuyến cáo, thậm chí ở một số địa phương còn được cho ăn bột, cháo hoặc nước cơm khi chưa đủ 6 tháng tuổi, trong khi hệ tiêu hóa vẫn chưa phát triển hoàn thiện. Điều này làm gia tăng nguy cơ mắc các bệnh tiêu chảy, nhiễm khuẩn đường hô hấp, suy dinh dưỡng, đồng thời tăng nguy cơ thừa cân, béo phì trong tương lai.

"Quan trọng hơn, trẻ sẽ mất đi nguồn kháng thể và các yếu tố miễn dịch quý giá có trong sữa mẹ - những thành phần mà đến nay chưa có loại sữa công thức nào có thể thay thế hoàn toàn", TS.BS. Hoàng Thị Đức Ngàn nhấn mạnh.

Không chỉ trẻ em chịu ảnh hưởng, việc cai sữa sớm cũng khiến người mẹ mất đi nhiều lợi ích về sức khỏe. Nhiều nghiên cứu đã chứng minh, việc duy trì nuôi con bằng sữa mẹ giúp giảm nguy cơ mắc ung thư vú, ung thư buồng trứng, đái tháo đường type 2, đồng thời góp phần hạn chế trầm cảm sau sinh.

Hiện nay, xu hướng phụ nữ phải quay trở lại làm việc sớm sau sinh hiện nay khá phổ biến và là một trong những nguyên nhân ảnh hưởng trực tiếp đến việc duy trì nuôi con bằng sữa mẹ. Mặc dù Bộ luật Lao động quy định lao động nữ được nghỉ thai sản 6 tháng - một chính sách được đánh giá là tiến bộ, vượt mức tối thiểu 14 tuần theo Công ước Bảo vệ thai sản của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) - nhưng trên thực tế, chính sách này chủ yếu áp dụng đối với lao động có quan hệ việc làm chính thức. 

Trong khi đó, một bộ phận lớn phụ nữ Việt Nam làm việc trong khu vực phi chính thức như buôn bán nhỏ, làm nông, lao động thời vụ, lao động tự do hoặc làm việc trên các nền tảng số. Với những nhóm lao động này, nghỉ sinh đồng nghĩa với việc mất nguồn thu nhập, khiến nhiều người buộc phải quay trở lại công việc khi con mới 2–3 tháng tuổi. Ngay cả ở khu vực chính thức, không ít bà mẹ cũng chủ động đi làm sớm hơn thời gian nghỉ thai sản do áp lực tài chính hoặc lo ngại ảnh hưởng đến vị trí việc làm.

Từ thực tế đó, TS.BS. Hoàng Thị Đức Ngàn cho rằng, để nâng cao tỷ lệ trẻ được bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu đời, ngoài việc duy trì các chính sách thai sản, cần có thêm những giải pháp hỗ trợ thiết thực cho phụ nữ sau sinh, đặc biệt là nhóm lao động khu vực phi chính thức và những bà mẹ phải quay trở lại làm việc sớm vì áp lực mưu sinh.

bs-ngan-vdd-17625149681771509955887
Theo TS.BS. Hoàng Thị Đức Ngàn, sữa mẹ là nguồn dinh dưỡng tự nhiên quý giá, an toàn và phù hợp nhất đối với trẻ nhỏ, đồng thời cũng là "nguồn dinh dưỡng miễn phí" giúp các gia đình giảm đáng kể chi phí chăm sóc trẻ trong những tháng đầu đời. (Ảnh: SKĐS)

Muốn trẻ được bú mẹ, cần sự chung tay của cả xã hội

Chia sẻ với Tạp chí Trẻ em Việt Nam, PGS.TS.BS Nguyễn Trọng Hưng, Giám đốc Trung tâm Tư vấn, Phục hồi dinh dưỡng và Kiểm soát béo phì, Viện Dinh dưỡng cho biết, trên thực tế, khả năng duy trì việc cho con bú của một người mẹ chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố như kiến thức, tình trạng sức khỏe, thời gian nghỉ sau sinh, điều kiện làm việc, sự tự tin cũng như sự hỗ trợ từ những người thân. 

Ở góc độ gia đình, vai trò của người cha và các thành viên khác đặc biệt quan trọng. Việc chia sẻ chăm sóc trẻ, hỗ trợ người mẹ nghỉ ngơi, bảo đảm chế độ dinh dưỡng hợp lý và động viên về tinh thần sẽ giúp người mẹ giảm căng thẳng, duy trì nguồn sữa và tự tin hơn trong hành trình nuôi con bằng sữa mẹ.

Bên cạnh đó, hệ thống y tế cần tiếp tục tăng cường tư vấn và hỗ trợ bà mẹ ngay từ khi mang thai, trong quá trình sinh và sau sinh. Việc hướng dẫn cho trẻ bú sớm trong giờ đầu sau sinh, hỗ trợ kỹ thuật ngậm bắt vú đúng hay xử lý các khó khăn như tắc tia sữa, đau núm vú hoặc lo lắng thiếu sữa cần được thực hiện dựa trên bằng chứng khoa học, giúp các gia đình có đủ kiến thức để duy trì việc nuôi con bằng sữa mẹ.

Theo chuyên gia, xây dựng môi trường làm việc thân thiện với nuôi con bằng sữa mẹ cũng là giải pháp mang tính quyết định. Các cơ quan, doanh nghiệp cần tạo điều kiện để lao động nữ được nghỉ thai sản theo quy định, có không gian phù hợp để vắt và bảo quản sữa cũng như các chính sách hỗ trợ khi người mẹ quay trở lại làm việc. Đây là yếu tố quan trọng giúp nhiều bà mẹ tiếp tục duy trì việc cho con bú sau khi kết thúc thời gian nghỉ sinh.

Cùng với đó, cần đẩy mạnh truyền thông để thay đổi nhận thức của cộng đồng, coi nuôi con bằng sữa mẹ không chỉ là lựa chọn của mỗi gia đình mà còn là một khoản đầu tư cho sức khỏe cộng đồng và tương lai của đất nước. Các chính sách bảo vệ, thúc đẩy và hỗ trợ nuôi con bằng sữa mẹ cần được lồng ghép trong chiến lược quốc gia về dinh dưỡng, góp phần giảm suy dinh dưỡng, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và thúc đẩy phát triển bền vững.

Theo chuyên gia, để nâng cao tỷ lệ nuôi con bằng sữa mẹ, Việt Nam cần chuyển từ cách tiếp cận "người mẹ tự cố gắng" sang xây dựng một hệ thống hỗ trợ toàn diện, trong đó gia đình, cơ sở y tế, nơi làm việc và cộng đồng cùng chia sẻ trách nhiệm. Khi người mẹ được tạo điều kiện thuận lợi để nuôi con bằng sữa mẹ, không chỉ trẻ em được hưởng lợi về sức khỏe và sự phát triển toàn diện mà gia đình, xã hội và nền kinh tế cũng được hưởng những lợi ích lâu dài và bền vững.

z8098079117062_f0c52ef96c5fe8890b8ff3a71359b6df
Theo PGS.TS.BS Nguyễn Trọng Hưng, nếu mọi trách nhiệm đều đặt lên vai người mẹ mà thiếu một môi trường hỗ trợ phù hợp, nhiều phụ nữ sẽ khó có thể tiếp tục cho con bú dù rất mong muốn. (Ảnh: Phương Dinh)

Đồng quan điểm, TS.BS. Hoàng Thị Đức Ngàn cho rằng, việc một đứa trẻ có được bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu đời hay không không chỉ phụ thuộc vào ý chí của người mẹ mà còn phản ánh mức độ hỗ trợ từ gia đình, nơi làm việc, cơ sở y tế và các chính sách xã hội.

Theo chuyên gia, gia đình là "điểm tựa" đầu tiên giúp người mẹ duy trì việc nuôi con bằng sữa mẹ. Người chồng cần chia sẻ việc nhà, chăm sóc con để mẹ có thời gian nghỉ ngơi, tránh tạo thêm áp lực bằng những quan niệm như "ít sữa thì cho bú bình". Đồng thời, ông bà cũng cần được cập nhật kiến thức chăm sóc trẻ theo khuyến cáo hiện nay, thay vì áp dụng những kinh nghiệm cũ như cho trẻ ăn dặm hoặc uống nước trước 6 tháng tuổi.

Bên cạnh đó, các cơ sở y tế cần thực hiện tốt các biện pháp hỗ trợ nuôi con bằng sữa mẹ ngay từ sau sinh như da kề da, cho trẻ bú sớm trong giờ đầu, tư vấn kỹ thuật cho con bú và đồng hành cùng bà mẹ trong suốt quá trình nuôi con. Đặc biệt, mạng lưới tư vấn tại bệnh viện, trạm y tế và các hình thức tư vấn từ xa cần chủ động hỗ trợ những bà mẹ chuẩn bị quay trở lại làm việc - thời điểm được xem là "giai đoạn vàng" để duy trì nguồn sữa.

TS.BS. Hoàng Thị Đức Ngàn cũng nhấn mạnh, bản thân người mẹ cần được trang bị kiến thức và kỹ năng ngay từ thời kỳ mang thai về cơ chế tiết sữa, cách cho con bú đúng, kỹ thuật vắt và bảo quản sữa mẹ, cũng như chế độ dinh dưỡng và nghỉ ngơi hợp lý. Khi quay trở lại làm việc, người mẹ nên duy trì việc vắt sữa đúng cữ, đồng thời tăng cường cho con bú trực tiếp vào buổi sáng, buổi tối và những ngày nghỉ để duy trì nguồn sữa.

Ở góc độ doanh nghiệp, theo chuyên gia, người sử dụng lao động cần thực hiện đầy đủ các quy định của pháp luật về hỗ trợ lao động nữ nuôi con nhỏ, như bảo đảm thời gian nghỉ cho con bú, bố trí không gian vắt và bảo quản sữa, đồng thời tạo điều kiện về thời gian làm việc linh hoạt. Thực tế cho thấy, những doanh nghiệp xây dựng môi trường làm việc thân thiện với bà mẹ nuôi con nhỏ không chỉ giúp người lao động yên tâm gắn bó mà còn góp phần nâng cao năng suất và giảm tình trạng nghỉ việc, nghỉ chăm con.

Bên cạnh đó, Nhà nước cần tiếp tục hoàn thiện các chính sách hỗ trợ phụ nữ sau sinh, mở rộng phạm vi bảo vệ đối với lao động khu vực phi chính thức, tăng cường kiểm soát hoạt động tiếp thị sản phẩm thay thế sữa mẹ, đồng thời đẩy mạnh truyền thông để xóa bỏ những định kiến và quan niệm sai lầm về nuôi con bằng sữa mẹ.

"Sữa mẹ là 'liều vắc-xin đầu đời' và là nền tảng dinh dưỡng tốt nhất trong 1.000 ngày đầu đời của trẻ. Để nhiều trẻ được bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu theo khuyến cáo, mỗi người mẹ, dù làm việc trong nhà máy, văn phòng, trên đồng ruộng hay ngoài chợ, đều cần nhận được sự đồng hành từ gia đình, nơi làm việc và toàn xã hội. Đừng để áp lực mưu sinh trở thành rào cản khiến hành trình nuôi con bằng sữa mẹ bị gián đoạn", TS.BS. Hoàng Thị Đức Ngàn nhấn mạnh.

Dù nhận thức về lợi ích của sữa mẹ ngày càng được nâng cao, khoảng cách giữa mục tiêu và thực tế cho thấy, nỗ lực của riêng người mẹ là chưa đủ. Để mỗi đứa trẻ đều có cơ hội được bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu đời, cần một hệ sinh thái hỗ trợ đồng bộ, từ chính sách quốc gia, hệ thống y tế, doanh nghiệp đến gia đình và cộng đồng. Những mô hình nào đã chứng minh hiệu quả? Cần làm gì để phụ nữ có thể vừa quay trở lại làm việc, vừa tiếp tục nuôi con bằng sữa mẹ? Và đâu là những chính sách cần được thúc đẩy để Việt Nam tiến gần hơn tới các mục tiêu quốc gia và toàn cầu về nuôi con bằng sữa mẹ? Những nội dung này sẽ được Tạp chí Trẻ em Việt Nam tiếp tục phân tích trong Bài 3: "Chung tay xây dựng hệ sinh thái hỗ trợ nuôi con bằng sữa mẹ".