08:29 02/10/2026

Bảo vệ trẻ em không thể bắt đầu sau khi trẻ đã bị tổn thương

Vừa qua, Bộ Y tế tổ chức Lễ phát động Chương trình quốc gia về bảo vệ trẻ em và phòng ngừa, giảm thiểu trẻ em lao động trái quy định của pháp luật giai đoạn 2026-2030, triển khai Quyết định số 1415/QĐ-TTg ngày 28-7-2026 của Thủ tướng Chính phủ.

1790903363188_44438806887
Tác giả Đặng Việt Trinh - Chuyên gia truyền thông, cây bút bình luận

Chương trình đặt ra những mục tiêu cụ thể: giảm ít nhất 5% mỗi năm tỷ lệ trẻ em bị bạo lực, xâm hại tình dục; đưa tỷ lệ lao động trẻ em trong độ tuổi 5-17 xuống dưới 1,1%; 100% tỉnh, thành phố triển khai mô hình cung cấp dịch vụ bảo vệ trẻ em tích hợp, 95% cấp xã triển khai mô hình dịch vụ liên ngành và 100% cấp xã thành lập phòng điều tra thân thiện. Tất cả trường hợp trẻ bị xâm hại, có nguy cơ bị bạo lực, bóc lột, bỏ rơi khi được phát hiện đều phải được hỗ trợ, can thiệp kịp thời. Những mục tiêu ấy cho thấy quyết tâm đưa công tác bảo vệ trẻ em đi vào từng cấp, từng khâu và từng trường hợp cụ thể. 

Trong truyền thông, quản trị khủng hoảng hiệu quả không đơn thuần nằm ở cách xử lý sau khi sự cố xảy ra, mà còn ở khả năng dự báo, nhận diện và kiểm soát rủi ro từ trước. Với trẻ em cũng vậy. Không phải đợi đến khi đã có tổn thương, có hậu quả mới bắt đầu bảo vệ hay can thiệp. Điều quan trọng hơn là nhìn thấy nguy cơ từ sớm, trước khi có vụ việc đáng tiếc xảy ra. 

Tư duy ấy được thể hiện khá rõ trong chính sách trước đó. Quyết định 782/QĐ-TTg ngày 27/5/2021 về Chương trình phòng ngừa, giảm thiểu trẻ em lao động trái quy định của pháp luật xác định yêu cầu “phòng ngừa, phát hiện, hỗ trợ, can thiệp trẻ em lao động trái quy định của pháp luật và trẻ em có nguy cơ trở thành lao động trẻ em”. Điểm đáng chú ý nằm ở chính cụm “có nguy cơ”. Bởi khoảng thời gian từ khi trẻ bắt đầu xuất hiện nguy cơ đến khi rơi vào tình trạng lao động trẻ em chính là khoảng thời gian quan trọng nhất để phòng ngừa. Cách xác định này cũng mở rộng phạm vi bảo vệ: không chỉ những em đã rơi vào lao động trái quy định, mà cả những em đang đứng trước khả năng bị đẩy vào hoàn cảnh đó.

Một đứa trẻ phải đi làm quá sớm thường không bắt đầu từ ngày cơ quan chức năng phát hiện em tại một cơ sở sản xuất. 

Trước đó có thể là một chuỗi yếu tố đan xen: thu nhập gia đình giảm, việc học bị gián đoạn, nhu cầu phụ giúp gia đình tăng lên, thiếu thông tin hoặc thiếu khả năng tiếp cận các dịch vụ hỗ trợ…Nếu chỉ nhìn ở điểm cuối, ta có thể xử lý được một cơ sở, chấn chỉnh một hành vi vi phạm, nhưng nguyên nhân khiến đứa trẻ phải đi làm sớm vẫn còn nguyên. 

Vì vậy, mấu chốt vấn đề là phải nhìn từ hoàn cảnh sống của trẻ. Đó là sinh kế gia đình, việc học có bị gián đoạn hay không, điều kiện chăm sóc ra sao, môi trường sống có an toàn không. Tỷ lệ trẻ em lao động trái quy định của pháp luật đã giảm từ 5,4%(năm 2018) xuống 1,31% (năm 2023), một sự nỗ lực đáng ghi nhận. Nhưng mục tiêu đưa tỷ lệ này xuống dưới 1,1% vào năm 2030 cũng cho thấy phần việc còn lại đòi hỏi phải kết hợp chặt chẽ giữa phòng ngừa, phát hiện sớm, hỗ trợ, can thiệp với thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm

Càng đi sâu vào nhóm trẻ có nguy cơ, bài toán càng gắn với nghèo đói, giáo dục, an sinh xã hội và khả năng phát hiện vấn đề ngay từ cơ sở.

Cần nhìn nhận thẳng thắn với nhau rằng, quy mô của bài toán này không nhỏ. Tính đến năm 2025, cả nước có 24.950.416 trẻ em; trong đó trẻ em dân tộc thiểu số chiếm 18,3%, trẻ em nghèo đa chiều chiếm 8,4% và có 790.514 trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, chiếm 3,2% tổng số trẻ em. Trong số này, khoảng 15.000 trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt đang hưởng chính sách trợ giúp xã hội hằng tháng theo quy định

Những con số ấy cho thấy công tác bảo vệ trẻ em không thể chỉ chạy theo từng vụ việc đã xảy ra. Với một nhóm dân số gần 25 triệu người, cần một hệ thống theo dõi bài bản, dữ liệu được kết nối, các cơ quan phối hợp thực chất và công nghệ được sử dụng để nhận diện sớm những trường hợp có nguy cơ.

Đây cũng là lý do Chương trình giai đoạn 2026-2030 đặt mục tiêu mở rộng mô hình bảo vệ trẻ em tích hợp và dịch vụ liên ngành. Điều đáng nói không phải ở việc có thêm một mô hình tổ chức, mà ở chỗ các lực lượng phải cùng nhìn về một đứa trẻ, cùng nhận ra một nguy cơ và cùng vào cuộc khi cần. Nói cách khác, thông tin không được manh mún, các đầu mối không thể hoạt động rời rạc; một dấu hiệu bất thường khi xuất hiện phải có nơi tiếp nhận, có người xử lý và có cơ chế theo dõi tiếp. Một đứa trẻ có thể đồng thời gặp khó khăn về kinh tế, học tập, tâm lý và an toàn. Nếu mỗi nơi chỉ nhìn một góc độ, nguy cơ rất dễ bị bỏ sót.

Quyết định 782 cũng đặt ra yêu cầu xây dựng “quy trình, mạng lưới phòng ngừa, phát hiện, hỗ trợ, can thiệp lao động trẻ em và trẻ em có nguy cơ trở thành lao động trẻ em gắn với hệ thống bảo vệ trẻ em”. Rõ ràng, bảo vệ trẻ không thể chỉ là phản ứng, cách xử lý sau vi phạm. Quan trọng là phải nhìn ra dấu hiệu từ trước, để có thể kịp ngăn chặn sự việc xảy ra hay đi xa. 

Muốn vậy, “lá chắn” cho trẻ phải bắt đầu từ những nơi gần các em nhất. Gia đình là lớp đầu tiên, nhưng không thể là lớp duy nhất. Cha mẹ có thể rất thương con mà vẫn không biết con đang bị bắt nạt ở trường, bị dụ dỗ trên mạng hay đang chịu một áp lực nào đó không dám nói. Tình thương là nền tảng. Nhưng nếu thiếu quan sát, thiếu kỹ năng và thiếu đối thoại, nhiều dấu hiệu vẫn có thể bị bỏ qua.

Nhà trường là một mắt xích quan trọng trong hệ thống bảo vệ trẻ em. Giáo viên không thay thế vai trò của công an, nhân viên y tế hay chuyên gia tâm lý, nhưng là những người có cơ hội tiếp xúc, quan sát và đồng hành với trẻ trong quá trình học tập hằng ngày. Những thay đổi kéo dài hoặc bất thường về việc đi học, kết quả học tập, sức khỏe, tâm lý, hành vi hay quan hệ với bạn bè có thể là những dấu hiệu cần được quan tâm và tìm hiểu phù hợp. Khi nhận thấy nguy cơ, điều quan trọng không phải là giáo viên tự mình giải quyết mọi vấn đề, mà là biết cách lắng nghe, bảo vệ thông tin của trẻ và kết nối kịp thời với các lực lượng, dịch vụ có trách nhiệm. Quyết định 782/QĐ-TTg cũng xác định trách nhiệm của ngành giáo dục trong việc hỗ trợ trẻ em có nguy cơ trở thành lao động trẻ em, tạo điều kiện để trẻ em đang lao động tiếp cận giáo dục phổ thông và triển khai các mô hình phòng ngừa trong nhà trường.

Chúng ta cần trang bị cho trẻ những kỹ năng cơ bản để tự bảo vệ mình: biết nói “không”, biết tìm kiếm sự trợ giúp, nhận diện những tình huống không an toàn và sử dụng không gian mạng một cách an toàn. Nhưng những kỹ năng ấy không thể thay thế trách nhiệm của người lớn và của hệ thống bảo vệ trẻ em. Khi nhận thức, kinh nghiệm sống và khả năng ứng phó của trẻ vẫn đang được hình thành, bảo vệ trẻ phải là trách nhiệm được chia sẻ và thực hiện ở nhiều cấp độ: từ gia đình, nhà trường, cộng đồng đến các cơ quan, dịch vụ chuyên môn; từ môi trường sống trực tiếp đến không gian số.

Cách tiếp cận đó cũng đòi hỏi chúng ta nhìn nhận hiệu quả của công tác bảo vệ trẻ em theo một cách đầy đủ hơn. Số vụ việc được phát hiện, số trường hợp được hỗ trợ, can thiệp hay số hành vi vi phạm được xử lý vẫn là những chỉ số cần thiết, nhưng chưa phản ánh đầy đủ năng lực phòng ngừa của hệ thống. Một hệ thống bảo vệ trẻ em hiệu quả không chỉ xử lý tốt khi vụ việc xảy ra, mà còn phải có khả năng nhận diện nguy cơ, can thiệp đúng lúc và giảm khả năng nguy cơ trở thành tổn thương thực tế.

Vì vậy, bên cạnh câu hỏi đã xử lý được bao nhiêu vụ việc, cần đặt ra một câu hỏi quan trọng khác: chúng ta đã nhận diện và giảm thiểu được bao nhiêu nguy cơ trước khi trẻ bị tổn thương?

Phòng ngừa không bắt đầu từ khi hậu quả xuất hiện. Phòng ngừa bắt đầu từ khả năng nhìn thấy những thay đổi, những nguy cơ và những khoảng trống trong môi trường sống của trẻ; từ đó có sự hỗ trợ phù hợp, đúng lúc và đúng trách nhiệm. Đó cũng là cách để công tác bảo vệ trẻ em chuyển từ xử lý hậu quả sang chủ động phòng ngừa và bảo vệ từ sớm.