10:01 11/09/2026

Bảo vệ trẻ em từ sớm, giảm lao động trẻ em và nguy cơ bạo lực, xâm hại

Giảm lao động trẻ em trong độ tuổi 5-17 xuống dưới 1,1%, tăng cường mạng lưới bảo vệ trẻ em và phòng ngừa bạo lực, xâm hại là mục tiêu quan trọng trong giai đoạn 2026-2030.

Ngày 11/9, tại Hà Nội, Bộ Y tế tổ chức Lễ phát động Chương trình quốc gia về bảo vệ trẻ em và phòng ngừa, giảm thiểu trẻ em lao động trái quy định của pháp luật giai đoạn 2026-2030. Chương trình được triển khai trên phạm vi toàn quốc, kết nối điểm cầu Hà Nội với 34 Sở Y tế tỉnh, thành phố.

LĐTE1
Lễ phát động Chương trình quốc gia về bảo vệ trẻ em và phòng ngừa, giảm thiểu trẻ em lao động trái quy định của pháp luật giai đoạn 2026-2030. (Ảnh: Uông Ngọc)

Sự kiện có sự tham dự của đại diện Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội, các bộ, ngành, địa phương, tổ chức quốc tế như UNICEF, ILO, Save the Children, Plan, World Vision, ChildFund, MSD, các chuyên gia, đại diện trẻ em và cơ quan báo chí.

Đây là bước triển khai Quyết định số 1415/QĐ-TTg được Thủ tướng Chính phủ ban hành ngày 28/7/2026, tiếp nối các chương trình về phòng, chống bạo lực, xâm hại và lao động trẻ em đã được thực hiện trong giai đoạn 2020-2025.

Giảm lao động trẻ em từ 5,4% xuống 1,31%: một bước tiến nhưng chưa phải đích đến

Theo số liệu được công bố tại chương trình, đến năm 2025, Việt Nam có hơn 24,95 triệu trẻ em. Trong đó, khoảng 790.500 trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, chiếm 3,2%; tỷ lệ trẻ em nghèo đa chiều là 8,4%.

Một trong những kết quả đáng chú ý của giai đoạn vừa qua là tỷ lệ trẻ em lao động trái quy định của pháp luật đã giảm từ 5,4% xuống còn 1,31%.

Đây là mức giảm đáng kể, nhưng cũng cho thấy bài toán lao động trẻ em chưa thể khép lại.

Ở giai đoạn 2026-2030, chương trình đặt mục tiêu đưa tỷ lệ lao động trẻ em trong độ tuổi 5-17 xuống dưới 1,1%.

Đáng chú ý, cách tiếp cận không chỉ tập trung vào những nơi đã phát hiện lao động trẻ em mà mở rộng sang các khu vực được xác định có nguy cơ cao như nông nghiệp, chuỗi cung ứng, cơ sở sản xuất nhỏ lẻ, hộ gia đình và làng nghề.

Điều này có ý nghĩa đặc biệt trong bối cảnh lao động trẻ em không phải lúc nào cũng xuất hiện trong những hình thức dễ nhận biết.

Một đứa trẻ làm việc trong cơ sở sản xuất, phụ giúp gia đình, tham gia hoạt động kinh tế tại làng nghề hay trong chuỗi cung ứng có thể khó được nhận diện nếu chỉ dựa vào những cuộc kiểm tra thông thường.

Vì vậy, chương trình mới đặt trọng tâm vào phòng ngừa, phát hiện và can thiệp, thay vì chỉ xử lý khi vụ việc đã xảy ra.

Không để trẻ gặp vấn đề rồi mới tìm nơi hỗ trợ

LĐTE3
Quang cảnh Lễ phát động Chương trình quốc gia bảo vệ trẻ em. (Ảnh: Uông Ngọc)

Một mục tiêu quan trọng khác của chương trình là củng cố hệ thống dịch vụ bảo vệ trẻ em.

Đến năm 2030, 100% tỉnh, thành phố được đặt mục tiêu triển khai mô hình cung cấp dịch vụ bảo vệ trẻ em tích hợp; 95% cấp xã triển khai mô hình dịch vụ liên ngành và 100% cấp xã thành lập phòng điều tra thân thiện.

Theo chương trình, tất cả trường hợp trẻ em bị xâm hại hoặc có nguy cơ bị bạo lực, bóc lột, bỏ rơi khi được phát hiện sẽ được hỗ trợ, can thiệp kịp thời và phù hợp. Đồng thời, 100% yêu cầu trợ giúp pháp lý cho trẻ em được đáp ứng theo quy định.

Cách tổ chức này hướng tới một thay đổi quan trọng: một vụ việc liên quan đến trẻ em không còn là trách nhiệm riêng của một ngành.

Y tế có thể là nơi đầu tiên phát hiện dấu hiệu bất thường. Nhà trường có thể nhận thấy sự thay đổi trong hành vi, học tập hoặc hoàn cảnh của học sinh. Công an, tư pháp và trợ giúp pháp lý có vai trò trong những trường hợp cần bảo vệ hoặc điều tra. Ngành an sinh xã hội và công tác xã hội lại giữ vai trò hỗ trợ trẻ và gia đình trong quá trình phục hồi.

Chương trình vì thế xác định việc liên kết giữa y tế, giáo dục, tư pháp, trợ giúp pháp lý và an sinh xã hội là một trong những nhóm giải pháp trọng tâm.

Đến năm 2030, 100% trẻ em thuộc nhóm cần bảo vệ và nhóm có nguy cơ cũng được đặt mục tiêu quản lý trên hệ thống cơ sở dữ liệu trẻ em kết nối dùng chung với các cơ sở dữ liệu liên quan.

Nếu được thực hiện hiệu quả, đây có thể là cơ sở để chuyển hệ thống bảo vệ trẻ em từ cách tiếp cận “xử lý vụ việc” sang “quản lý nguy cơ”: nhận diện những trường hợp cần hỗ trợ trước khi vấn đề trở nên nghiêm trọng.

Giảm 5% mỗi năm số trẻ bị bạo lực, xâm hại

Không chỉ tập trung vào lao động trẻ em, chương trình mới đặt mục tiêu rộng hơn về bảo vệ trẻ em.

Theo đó, tỷ lệ trẻ em bị bạo lực và xâm hại tình dục được đặt mục tiêu giảm ít nhất 5% mỗi năm.

Mục tiêu này được triển khai trên nền tảng những kết quả đã đạt được trong giai đoạn trước.

Theo số liệu được công bố, tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi được đăng ký khai sinh hiện đạt 99,3%; tỷ lệ tiêm chủng đầy đủ ở trẻ dưới 1 tuổi đạt 97%; 100% trẻ em 5 tuổi được đi học mẫu giáo. Trên 80% trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt được trợ giúp phù hợp với nhu cầu và điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.

Hệ thống dịch vụ bảo vệ trẻ em theo ba cấp độ gồm phòng ngừa, hỗ trợ và can thiệp tiếp tục được duy trì. Tổng đài quốc gia bảo vệ trẻ em 111 tiếp tục là địa chỉ tiếp nhận thông tin và phối hợp xử lý các vụ việc liên quan đến quyền trẻ em.

Đến nay, 34/34 tỉnh, thành phố đã thành lập hoặc kiện toàn Ban chỉ đạo/Ban điều hành công tác trẻ em cấp tỉnh.

Những con số này cho thấy hệ thống bảo vệ trẻ em đã được hình thành ở nhiều tầng nấc. Thách thức của giai đoạn mới vì vậy không chỉ là mở rộng hệ thống, mà còn là làm cho các mắt xích thực sự kết nối với nhau.

Một trẻ em có nguy cơ bị bạo lực cần được nhận diện ở đâu? Ai là người tiếp nhận thông tin đầu tiên? Sau khi phát hiện, trẻ được chuyển đến dịch vụ nào? Ai theo dõi quá trình hỗ trợ và bảo đảm trẻ không bị bỏ lại sau khi vụ việc kết thúc?

Đó là những câu hỏi mà mô hình dịch vụ liên ngành và cơ sở dữ liệu dùng chung được kỳ vọng giải quyết.

Sáu nhóm giải pháp để bảo vệ trẻ em chủ động hơn

LĐTE2
Các đại biểu tham dự Lễ phát động. (Ảnh: Uông Ngọc)

Để thực hiện các mục tiêu đến năm 2030, chương trình tập trung vào sáu nhóm nhiệm vụ và giải pháp.

Thứ nhất là hoàn thiện thể chế, chính sách, tiêu chuẩn và hướng dẫn về bảo vệ trẻ em.

Thứ hai là đổi mới truyền thông, giáo dục pháp luật và nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ làm công tác bảo vệ trẻ em.

Thứ ba là phát triển hệ thống dịch vụ bảo vệ trẻ em, tăng cường liên kết giữa y tế, giáo dục, tư pháp, trợ giúp pháp lý và an sinh xã hội.

Thứ tư là đẩy mạnh phòng ngừa, phát hiện và can thiệp lao động trẻ em, nhất là tại những khu vực có nguy cơ như nông nghiệp, chuỗi cung ứng, cơ sở sản xuất nhỏ lẻ, hộ gia đình và làng nghề.

Thứ năm là tăng cường hợp tác quốc tế và ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong quản lý dữ liệu.

Cuối cùng là tăng cường thanh tra, kiểm tra, giám sát và đánh giá định kỳ việc thực hiện chương trình.

Việc huy động nguồn lực xã hội cũng tiếp tục được coi là một thành tố quan trọng. Trong những năm qua, sự tham gia của các tổ chức quốc tế, cộng đồng doanh nghiệp và tổ chức xã hội đã bổ sung nguồn lực cho công tác trẻ em.

Từ nền tảng đó, giai đoạn 2026-2030 đặt ra một yêu cầu cao hơn: không chỉ bảo vệ những trẻ em đã trở thành nạn nhân, mà phải nhận diện và giảm thiểu nguy cơ trước khi các em bị tổn thương.

Đó cũng là ý nghĩa lớn nhất của những mục tiêu như giảm lao động trẻ em xuống dưới 1,1%, giảm ít nhất 5% mỗi năm tỷ lệ trẻ bị bạo lực, xâm hại tình dục và xây dựng hệ thống dịch vụ bảo vệ trẻ em liên ngành ở các địa phương.

Bởi với trẻ em, một hệ thống bảo vệ tốt không chỉ được đo bằng số vụ việc được xử lý, mà còn bằng số trẻ không phải trở thành nạn nhân vì nguy cơ đã được nhìn thấy và can thiệp đủ sớm./.