06:00 14/09/2026

Doanh nhân Đoàn Sung - người gieo "hạt mầm" cho tương lai di sản

LỜI TÒA SOẠN

Tương lai của một đất nước, trước hết, được tạo nên từ tương lai của mỗi con người. Một quốc gia chỉ thực sự vững mạnh khi con người được phát triển toàn diện cả về thể lực, trí lực và tâm hồn. Đặc biệt, một thế hệ trẻ được học tập tốt hơn, khỏe mạnh hơn, có năng lực, bản lĩnh và khát vọng vươn lên chính là nền tảng để đất nước đi xa và phát triển bền vững.

Năm 2026, khi đất nước bước vào năm đầu triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, đồng thời nhìn lại 40 năm Đổi mới, Việt Nam đang đứng trước một chặng đường phát triển mới với khát vọng trở thành quốc gia phát triển, có thu nhập cao vào năm 2045. Tinh thần “kỷ nguyên vươn mình của dân tộc” được Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh cũng đặt ra yêu cầu về một tầm nhìn dài hạn hơn, trong đó con người vừa là chủ thể, vừa là động lực và mục tiêu của phát triển.

Trong hành trình ấy, doanh nghiệp, doanh nhân không chỉ tạo ra những giá trị cho nền kinh tế, mà còn có thể góp phần kiến tạo những giá trị tốt đẹp cho cộng đồng và xã hội. Đó có thể là những khoản đầu tư cho giáo dục, sức khỏe, dinh dưỡng, môi trường, văn hóa; là những cơ hội được trao cho người trẻ; là sự đồng hành, sẻ chia với những người yếu thế; và trên hết, là những lựa chọn hướng đến vì trẻ em, vì học sinh, vì tương lai của con trẻ. Bởi đầu tư cho con người hôm nay cũng chính là đặt nền móng cho tương lai của đất nước.

Nhân kỷ niệm 22 năm Ngày Doanh nhân Việt Nam (13/10/2004 - 13/10/2026), Tạp chí Trẻ em Việt Nam thực hiện chuyên đề “DOANH NHÂN VÌ THẾ HỆ TƯƠNG LAI”, ghi nhận những câu chuyện về các doanh nhân không chỉ tạo dựng thành công cho doanh nghiệp, mà còn lựa chọn kiến tạo những giá trị có sức lan tỏa trong cộng đồng, mở ra cơ hội cho những người yếu thế và góp phần vun đắp một tương lai tốt đẹp hơn cho trẻ em và thế hệ trẻ.

Bởi điều một doanh nhân để lại cho tương lai không chỉ là những gì được xây dựng nên, mà còn là những con người được trao cơ hội để trưởng thành.

Trân trọng giới thiệu tới độc giả!

Sapo (25)

Với người lớn ở Gò Cỏ, ông Đoàn Sung là “chủ tịch”. Với đám trẻ tham gia lớp học, ông chỉ là khán giả lặng lẽ. Khi tham gia lớp học, không ai nói các em phải làm ra sản phẩm. Nhưng sau vài ngày ăn, ở cùng bà con trong làng, một nhóm quyết định: phải nghĩ ra món đồ nào đó để đựng loại muối được làm theo cách cổ xưa của người Sa Huỳnh - gạn nước biển, phơi trên gành đá - sao cho vừa giữ được vị, vừa có thể tặng cho khách đến làng.

SUNG 1
Hũ muối tre do các em nhỏ đến từ Hà Nội lên ý tưởng và làm, dưới sự đồng hành, hướng dẫn của người dân làng Gò Cỏ. (Ảnh: HTX Du lịch cộng đồng làng Gò Cỏ)

Ban đầu bọn trẻ tính dùng bình gốm, vì làng có câu chuyện về gốm, bà con cũng có thể dạy cách làm. Nhưng khi trò chuyện với người lớn trong làng, các em mới biết: để lâu, bình gốm dễ nứt, muối bên trong cũng bị ẩm. Chuyển sang bình tre thì tre non giữ ẩm kém, dễ bị co ngót. Tre phải được ngâm, phơi, xử lý mối mọt. Không đứa nào biết những điều đó. Các em lại đi hỏi tiếp - từ những người đã sống cả đời với lũy tre, con nước.

Hôm đó, ông Đoàn Sung chỉ là người quan sát. Nhưng nếu không có ông, rất có thể các em đã không có cơ hội ngồi ăn cơm, ngủ lán tranh và đi hỏi chuyện tre, chuyện muối với người dân Gò Cỏ. Vì làng này, chưa đầy mười năm trước, còn chưa ai buồn ghé qua.

tít phụ 1 (10)

Ký ức của doanh nhân Đoàn Sung trôi về mùa hè năm 1971.

Ở xã Phổ Ninh, huyện Đức Phổ (cũ), tỉnh Quảng Ngãi, có một cậu bé chừng 8 tuổi, loắt choắt đeo trước bụng một thùng kem to hơn vóc người, chân trần đi bộ bán dạo khắp các xóm. Cậu bé đó là Đoàn Sung.

Cậu không phải người gốc Phổ Ninh. Cha là bộ đội, đóng quân biền biệt ở núi rừng Đà Nẵng suốt những năm chiến tranh, mẹ là liệt sĩ; từ nhỏ, cậu sống với bà nội ở quê nhà - xã Phổ Vinh, cách đó hơn 10km.

Khắp Đức Phổ ngày đó, lính Mỹ thường đi càn, sục vào từng nhà, gom trẻ con trong xóm lại để nẹt, hỏi. Có những lần, cậu bé Sung bị chúng cột chân, thả ngược đầu xuống giếng rồi kéo lên, hỏi cộng sản ở đâu. Sung không nói, chúng lại thả xuống...

SUNG 3
Ông Đoàn Sung (giữa, áo sọc) cùng bà con Gò Cỏ. (Ảnh: Uông Ngọc)

Sau hơn nửa thế kỷ, khi nhắc lại chuyện này, giọng ông đều đều, ánh mắt nhìn về phía biển: “Mấy lần thả xuống, kéo lên như vậy, nhưng tôi lì lắm”. Ông cười, nụ cười rất nhẹ, như nhớ về một trò chơi trẻ con đã lùi rất xa vào quá khứ. Nhưng cái lì mà một đứa trẻ chưa đến mười tuổi học được trong những lần bị treo ngược dưới giếng ấy - không khai không phải vì gan dạ, mà vì đó là điều đúng, phải làm, dù phải trả giá bao nhiêu lần - sẽ còn theo cậu đi suốt quãng đời sau này.

Chiến tranh và cảnh côi cút khiến bà nội không thể một mình lo hết cho cháu. Thời gian đi bán kem là lúc cậu được gửi sang cho một người cô nuôi. Nhà cô cũng nghèo, một mình nuôi hai đứa con, phải đi phụ hồ kiếm sống, không đủ sức cưu mang thêm một miệng ăn. Để có thêm đồng ra đồng vào, người cô giao cho cậu thùng kem, bảo đi bán.

BOX1

Nắng hè miền Trung đổ thẳng xuống đầu. Có hôm bán hết trước giờ trưa, có hôm ế đến chiều tối. Thùng kem trĩu trước ngực, kéo dáng người nhỏ bé của Sung chùng xuống suốt quãng đường về. Lại có hôm gặp đứa bạn cùng xóm, nhà cũng nghèo, không có tiền mua. Nhìn đôi mắt hau háu, thèm thuồng của bạn, cậu cho không, dù biết tối về sẽ khó giải thích với cô.

Kết thúc mỗi ngày bán kem, cậu lại xin vào học lớp bình dân mở trong chùa làng. Không bàn ghế, đám trẻ ngồi bệt dưới nền đất, mỗi đứa một ngọn đèn dầu leo lét đủ soi trang sách. Cậu bé Sung ngồi cuối lớp, đôi mắt sáng dõi theo từng con chữ thầy viết trên bảng. Với một đứa trẻ ban ngày phải tự lo miếng ăn, buổi tối được ngồi yên một chỗ để học đã là khoảng lặng hiếm hoi trong ngày.

“Tiền bán kem đủ sống, đủ để bà cô nấu cơm cho”. Ông kể như thuật lại một thỏa thuận sòng phẳng giữa hai người lớn, chứ không phải chuyện một đứa trẻ tám tuổi phụ giúp mưu sinh.

SUNG 18
Ông Đoàn Sung (thứ 2 từ trái qua) cùng các nhà khoa học tại Hội thảo quốc tế về giá trị Di sản Công viên địa chất Lý Sơn - Sa Huỳnh năm 2019. (Ảnh: HTX Du lịch cộng đồng làng Gò Cỏ)

Nhưng cuộc sống đó cũng không kéo dài. Sau gần một năm, người cô không thể tiếp tục nuôi cháu, đành gửi trở lại quê sống với bà nội. Ba năm sau, cậu được đưa đi vòng qua Lào để ra miền Bắc học tập, đến sau ngày đất nước thống nhất mới trở về quê. Phần lớn thời gian tuổi thơ là sống trong những môi trường tập thể, là học cách tự xoay xở, tự bước. Nhưng cũng vì thế mà cậu thiếu hẳn những mối dây tình thân bền chặt.

Năm 16 tuổi, đang học nội trú ở Quảng Ngãi thì có người báo với Sung rằng cha đến tìm. Cậu bước ra sân, thấy một người đàn ông dáng thấp, nhỏ, đứng ở cổng trường. Hai cha con nhìn nhau. Đó là lần đầu tiên trong đời, cậu nhìn thấy mặt cha.

“Cảm xúc đầu tiên không phải là mừng rỡ, cũng chẳng phải tủi thân hay nghẹn ngào - chỉ là một sự ngạc nhiên hồn nhiên: “Ủa, sao ba mình lùn dữ? Lùn hơn cả mình”, ông Sung nhớ lại. Sau này, khi được hỏi lại lúc đó có xúc động không, ông đáp gọn: “Xúc động sao được, khi trong ký ức của mình, không hề có người đàn ông mà mình kêu là “ba” đó””.

SUNG 4
Ông Đoàn Sung (bìa phải) làm việc với các thành viên trong tổ làm muối trên gành đá Sa Huỳnh của làng Gò Cỏ. (Ảnh: Uông Ngọc)

Chính vì phải tự lo cho mình từ rất sớm, giữa chiến tranh, mồ côi và những cuộc chuyển dịch từ nhà này qua nhà khác, nên cái tính “lì” (theo cách ông vẫn gọi) đã hình thành trong ông từ khi còn rất nhỏ.

Có lẽ cũng vì đã đi qua một tuổi thơ côi cút mà ông dễ nhận ra và thương những phận người bị “bỏ quên” - những người mà ông dành nửa phần đời sau để đồng hành.

tít phụ 2 (10)

Trước khi trở thành người đồng hành với bà con làng Gò Cỏ, Đoàn Sung là cái tên nổi tiếng trong giới sưu tầm cổ vật.

Cơ duyên từ năm 1989, khi ông mua một chiếc đĩa cổ chỉ vì đi “kèm” là cái nhung con nai để biếu bà nội. Không ngờ chiếc đĩa ấy dẫn ông vào một hành trình dài ba mươi năm, đi tìm và khai quật những con tàu đắm cổ dọc bờ biển - từ Hòn Dầm, Hà Tiên (An Giang) đến Cù Lao Chàm (Đà Nẵng), Bình Châu (Quảng Ngãi)... Đến nay, Công ty Cổ phần Đầu tư phát triển Đoàn Ánh Dương do ông sáng lập đã khai quật thành công 9 con tàu đắm, sở hữu hơn 62.000 cổ vật gốm sứ.

Ông Sung bảo, những cổ vật ấy là di sản, phải được kể lại cho nhiều người, nhiều thế hệ được biết đến. Từ suy nghĩ đó, ông đề xuất ý tưởng về một “con đường gốm sứ trên biển”, rồi tự bỏ tiền dựng khu trưng bày cổ vật tại Bảo tàng Quảng Ngãi.

box 2 (17)

Câu hỏi ấy dẫn ông đến làng Gò Cỏ - một làng chài cổ mang trong lòng gần 3.000 năm văn hoá Sa Huỳnh - Chăm Pa - Đại Việt, 12 giếng đá Chăm vẫn được bà con sử dụng hằng ngày. Năm 2011, cùng với nghiên cứu của các nhà khoa học về địa chất Lý Sơn, Sa Huỳnh, ông từng cho khoan 7 mũi khoan nghiên cứu địa tầng ở đây nhưng chưa làm gì thêm. Đến khoảng năm 2017, khi quay lại, rảo bước quanh làng, ông sững người: sao làng chỉ toàn người già và trẻ nhỏ?

Ông nghe bà con kể nhiều năm liền, làng không có đám cưới, chỉ có đám tang. Làng vô tình bị “cô lập” vì địa hình, và vô tình “bảo tồn” vẹn nguyên nếp sống lẫn cái nghèo - trong khi khắp các làng quê đang phát triển và thay đổi rất nhiều. Vậy thôi mà ông quyết định ở lại, không phải vài tuần hay vài tháng, mà là nhiều năm. Ông chọn khoảnh đất mà nhiều đá hơn đất - dân làng “đòi” ông phải mua để làm tin. Vì với bà con, một người xa lạ dốc công sức ở cái chốn nghèo hèn này là chuyện… không tưởng.

SUNG 5
Ông Đoàn Sung trong những ngày đầu thuyết phục bà con làng Gò Cỏ làm du lịch. (Ảnh: HTX Du lịch cộng đồng làng Gò Cỏ)

Lúc mua, ông không mặc cả, thậm chí trả cao hơn giá chủ đất đưa ra để khẳng định sự ở lại với bà con. Ông còn chuyển hộ khẩu từ Thành phố Hồ Chí Minh về làng, dựng nhà trình đất, ngủ lán tranh, ăn cơm cùng từng gia đình. Ông không mang theo bất kỳ bản đề án nào, chỉ ngồi hỏi chuyện từng người: cô chú giỏi việc gì, anh chị thích làm gì, kinh tế gia đình đang vướng ở đâu…

Ban đầu, dù đã mua đất rồi, nhưng vẫn chưa ai tin ông. “Nhưng ông dầm dề ăn cùng, sống cùng bà con, mưa bão cũng không rời Gò Cỏ. Rồi ông đưa dân làng, cán bộ địa phương ra Đà Nẵng thăm Cù Lao Chàm, Hội An”, bà Bùi Thị Vân (67 tuổi) nhớ.

box 3 (13)

Ông gọi cách nhìn mới đó là chuyển từ “tư duy nghèo” - coi đất đá là đất làm nông nên chỉ có thể nghèo - sang “tư duy giàu”: coi đây là đất di sản, đất văn hoá, đất có thể tạo ra giá trị bằng chính câu chuyện của mình. Năm 2019, khi hợp tác xã du lịch cộng đồng ra đời, ông nói với dân làng một câu mà sau này trở thành cách vận hành cả cộng đồng: “Đây là một trường học, không phải một điểm du lịch”. Người đến Gò Cỏ là để học cách làm muối trên đá, học đan lưới, nghe một bà cụ không biết chữ kể sử làng… Còn việc có khách hay không, chỉ là kết quả đi kèm.

Bà Huỳnh Thị Thương (71 tuổi) ví von giản mộc mà chính xác đến xót xa: “Chúng tôi coi “ông chủ tịch” như một miếng xốp giữa biển, để cả làng bám vào đó mà học cách tự bơi lên”. Ông Sung nghe vậy chỉ cười, khóe mắt khẽ loang loáng nước. Ông cũng hiểu rất rõ: khi người dân đã tự tin đứng vững, miếng xốp ấy phải dần lùi lại.

Ông luôn nhắc mình và cộng sự: đầu tư vào con người bao giờ cũng chậm hơn, khó đo đếm hơn đầu tư vào một công trình hay hạ tầng, nhưng chỉ có giá trị con người mới neo lại sâu và lâu dài với một vùng đất - đặc biệt với một làng di sản sống như Gò Cỏ.

tít phụ 3 (9)
SUNG 6
Trẻ em làng Gò Cỏ. (Ảnh: HTX Du lịch cộng đồng làng Gò Cỏ)

Song song với việc thay đổi cách nghĩ của người lớn, ông để tâm đến một góc mà không nhiều dự án du lịch cộng đồng thực sự quan tâm: môi trường sống của chính những đứa trẻ sẽ lớn lên ở đây.

Ông đứng ra kết nối với các quỹ môi trường, đưa dự án quản lý rác thải về cho Gò Cỏ, với mục tiêu giữ cho ngôi làng cổ ba nghìn năm tuổi này không có rác thải nhựa. Với ông, đó không đơn thuần là chuyện làm đẹp cảnh quan để đón khách, mà là cách để những đứa trẻ sinh ra ở đây được lớn lên trong một môi trường tự nhiên vẹn nguyên như hồn cốt của làng.

Mô hình du lịch bền vững mà ông xây dựng cũng vô tình mở ra một cánh cửa khác cho đám trẻ làng Gò Cỏ: ngoại ngữ. Vì thu hút được một lượng du khách - trong đó có không ít khách quốc tế - đến tìm hiểu văn hoá thay vì chỉ tắm biển, nghỉ dưỡng, làng dần kết nối được với những tình nguyện viên đến ở lại và dạy tiếng Anh miễn phí cho trẻ con trong làng.

Những đứa trẻ mà trước đây có khi cả năm không gặp một người nước ngoài nào, giờ đây tự tin bập bẹ trò chuyện, chỉ đường, giới thiệu về làng mình bằng tiếng Anh học được ngay tại làng - sớm hơn rất nhiều so với bạn bè cùng lứa ở những vùng quê khác.

SUNG 13
Trẻ em làng Gò Cỏ tự tin vui chơi cùng du khách nước ngoài. (Ảnh: HTX Du lịch cộng đồng làng Gò Cỏ)

Cùng với đó là một điều khó đong đếm hơn: lòng tự hào về nơi mình sinh ra. Ở nhiều làng quê, khi du lịch hoặc đô thị hoá tràn tới, thế hệ trẻ thường là những người rời đi trước tiên, mang theo cả cảm giác ngại ngùng về gốc gác quê mùa của mình.

Ở Gò Cỏ, mọi việc diễn ra ngược lại: trẻ con trong làng ngày ngày chứng kiến chính cha mẹ, ông bà mình đứng ra làm du lịch bằng văn hoá Sa Huỳnh - kể chuyện làm muối, giới thiệu nghề gốm, dẫn khách đi thăm giếng cổ - thay vì phải giấu đi hay từ bỏ những điều đó để “hoà nhập” với lối sống thành thị.

Nhìn ông bà đón khách, tiếp khách - chứ không phải là những người phục vụ khách - và được khách tôn trọng, được lắng nghe vì chính những gì họ vẫn làm mỗi ngày, bọn trẻ lớn lên, dần hình thành một tâm thế hoàn toàn khác: cội nguồn của mình là điều đáng tự hào, chứ không có gì phải xấu hổ, che giấu.

Cậu bé Huy (lớp 7, cháu nội bà Nguyễn Thị Đào) ríu rít cùng bà Thương, bà Tình… trong đội bài chòi. Bà Đào cười móm mém: “Nó mê hát bài chòi lắm. Cứ hôm nào hát đón khách mà không phải đi học là các bà gọi nó tham gia”.

tít phụ 4 (4)

Câu chuyện chiếc bình tre đựng muối trong “lớp học ABC” không phải là một buổi ngoại khoá hay một chương trình dã ngoại đơn thuần. Với ông Đoàn Sung, nó minh hoạ đúng điều ông tin tưởng nhất: cộng đồng - dù là những ngư dân không biết chữ hay những đứa trẻ mới 6 - 7 tuổi cũng luôn mang trong mình câu trả lời cho chính vấn đề của họ. Người ngoài, kể cả chuyên gia hay doanh nhân cũng không thể đến để mang một công thức có sẵn áp vào, mà chỉ có thể đến để lắng nghe và giúp cộng đồng tự tìm ra giải pháp.

SUNG 16
Nhóm học sinh đến từ Hà Nội cùng trình bày dự án muối ống tre Sa Huỳnh - kết quả các em thu được sau những ngày sống ở làng. (Ảnh: HTX Du lịch cộng đồng làng Gò Cỏ)

Nhóm trẻ làm dự án bình tre đã đi khắp làng tìm những người hiểu rõ về tre, có kinh nghiệm thực tế, hỏi đi hỏi lại mỗi khi gặp vướng mắc: Vì sao tre non khó làm hơn, tre “bánh tẻ” là gì, phải ngâm nước bao lâu, xử lý mối mọt như thế nào thì bình sẽ bền...

Một nhóm khác trong cùng đợt lại chọn đề tài khác: ghi lại câu chuyện của những người làm gốm trong làng, trước khi những câu chuyện ấy vô tình bị lãng quên theo dòng chảy thời gian.

SUNG 8
Một đoàn khách gồm gia đình các em nhỏ ở Hà Nội đến sống, học từ đời sống, nghe các bà hát bài chòi. (Ảnh: HTX Du lịch cộng đồng làng Gò Cỏ)

Cách các em làm những việc ấy đúng với hai điều mà ông Đoàn Sung vẫn luôn nhắc đi nhắc lại với bà con trong làng: cộng đồng là chuyên gia, và cộng đồng là trung tâm.

Không phải người có bằng cấp mới được gọi là chuyên gia; mà người phụ nữ cả đời gạn muối trên đá cũng là “chuyên gia” về đá và nước biển, người đàn ông đan lưới suốt bốn mươi năm cũng là “chuyên gia” sử dụng lưới đánh bắt và con nước... Và bất cứ dự án nào, nếu không đặt câu hỏi “nhóm người này thật sự cần gì” lên trước câu hỏi “mình có thể bán được gì”, thì rất dễ tạo ra sản phẩm người làm thích, chứ không phải thứ người dùng cần.

SUNG 15
Học sinh Trường tiểu học Phổ Thạnh (phường Sa Huỳnh, tỉnh Quảng Ngãi) học đan lưới cá cùng bà Gá. (Ảnh: Uông Ngọc)

Đó cũng là lý do vì sao, ở Gò Cỏ, có một nguyên tắc nghe qua thì lạ nhưng lại rất vững: muối làm ra không phải để bán, mà để tặng. Loại muối gạn qua đá granit, theo đúng cách người Sa Huỳnh làm hàng nghìn năm trước, được coi là “linh hồn” của muối, chỉ dành tặng khách đến làng như một cách chia sẻ văn hoá, không phải một món hàng. Khi đã là quà tặng, người trao không còn là người bán, người nhận cũng không còn là khách hàng đơn thuần. Đó chính là ranh giới ông Đoàn Sung cùng dân làng cố gắng giữ, để văn hóa và giá trị cốt lõi của làng không bị dần mòn bởi đồng tiền - dù làng có làm du lịch.

Ông Sung có một cách gọi riêng cho toàn bộ mô hình mình xây dựng ở Gò Cỏ: “lớp học không tường”. Ở đó, học sinh - có khi là trẻ con trong làng, có khi là những nhóm học sinh từ gần, xa về trải nghiệm - không ngồi trong phòng nghe giảng, mà học ngay trên nền đất, trên gành đá, dưới mái nhà trình đất của chính làng mình.

SUNG 7
Các em học sinh đến làng, học cách đổ bánh xèo cùng bà con. (Ảnh: HTX Du lịch cộng đồng làng Gò Cỏ)

Bài học khảo cổ và lịch sử, thay vì nằm trong sách giáo khoa, được dạy trực quan ngay trên di tích: các em được đứng trước những giếng cổ Chăm vẫn dùng sau hàng trăm năm, sờ tận tay những mảnh gốm gần ba nghìn năm tuổi, nghe kể vì sao một ngôi làng lại có thể mang trong mình đủ ba lớp văn hoá Sa Huỳnh - Chăm Pa - Đại Việt chồng lên nhau. Bài học địa chất biển được dạy bằng cách dẫn các em ra chính gành đá, nơi bao đời người Gò Cỏ gạn muối, giải thích vì sao chỉ đá ở đây mới lọc được thứ muối tinh khiết như vậy.

SUNG 14
Trẻ em đến làng, học làm gốm cùng bà Thương. (Ảnh: HTX Du lịch cộng đồng làng Gò Cỏ)

Nhưng có lẽ bài học khó nhất, cũng là bài học ông kiên trì nhất, lại không nằm trong sách vở nào: học cách sống chậm lại, tạm rời màn hình điện thoại để lắng nghe tiếng sóng, tiếng gió và những câu chuyện kể về đời sống thường ngày từ các bà, các ông; theo đám trẻ làng tham gia những trò chơi khắp đường làng, bờ cát... Với những đứa trẻ thành phố quen tay lướt màn hình cảm ứng, vài giờ, vài ngày ở Gò Cỏ lại trở thành một dạng “cai nghiện” công nghệ ngoài dự tính.

Và cũng chính tại “lớp học” ấy, các em còn được học thêm một bài học hiếm nơi nào dạy được: học nghị lực từ chính những người khiếm thính đang ngày ngày pha chế đồ uống, hướng dẫn khách làm gốm, vẽ tranh ngay trong làng - những người mà, thay vì được thương hại, đang đứng ở vị trí của người dạy.

tít phụ 5
SUNG 9
Các em nhỏ học cách làm gốm từ một thành viên khiếm thính trong chương trình hỗ trợ của HTX. (Ảnh: HTX Du lịch cộng đồng làng Gò Cỏ)

Ở khu vực sinh hoạt chung của hợp tác xã có những bạn trẻ đứng pha chế đồ uống trong gian nhà tranh, tay ra dấu, mắt cười. Họ đều khiếm thính, ở lại đây làm việc sau một năm tham gia chương trình “Người khuyết tật hoà nhập trong môi trường du lịch cộng đồng” (triển khai từ tháng 2 năm 2025 đến tháng 2 năm 2026).

Chương trình dành cho 24 bạn trẻ khiếm thính, có gia đình sống ở Quảng Ngãi. Họ được kết hợp dạy nghề truyền thống - làm gốm, đan lưới - với việc trực tiếp trải nghiệm, hoà nhập vào đời sống bản địa, thay vì chỉ được “hỗ trợ” một chiều.

Chương trình ấy bắt đầu từ một khoản tiền tình cờ. Một cộng sự thường xuyên làm việc cùng ông Đoàn Sung, trong lần trao giải một giải bóng đá gây quỹ, phát hiện có khoản tiền hơn ba trăm triệu đồng dành hỗ trợ trẻ khuyết tật nhưng chưa biết chi đúng cách. Khoản tiền được chuyển tới ngành lao động - thương binh và xã hội, nhưng ở đó người ta chỉ có thể tiếp nhận, giải ngân theo quy trình, chứ không có ai đứng ra tổ chức một chương trình cụ thể cho các em.

Nghe chuyện, ông Sung nhận làm việc đó, dù trong tay chưa có gì ngoài một chủ trương được đồng ý miệng.

SUNG 10
Ông Đoàn Sung và các bạn trẻ khiếm thính trong chương trình hỗ trợ của HTX. (Ảnh: HTX Du lịch cộng đồng làng Gò Cỏ)

Việc đầu tiên là đi tìm đúng những đứa trẻ cần giúp. Ông và cộng sự soạn văn bản gửi khắp các huyện, nhưng vì tiêu chí ban đầu chỉ giới hạn ở “khuyết tật” mà không bao gồm khiếm thính, số hồ sơ tìm được chỉ đếm trên đầu ngón tay. Nhưng tìm được rồi, thì khó hơn cả thủ tục hành chính là việc thuyết phục chính gia đình các em.

Khi những người trong nhóm của ông tìm đến từng nhà, ngỏ ý đón các em về làng để ăn ở, học nghề, không ít gia đình phản ứng như thể đang bị lừa: làm gì có chuyện tốt đến vậy, lo ăn, lo ở, lo đi lại, rồi còn giúp có nghề có nghiệp mà không đòi hỏi gì. Họ không tin, nên không dám cho con mình đi.

Đằng sau sự nghi ngờ ấy là một rào cản còn khó vượt hơn: nỗi mặc cảm âm ỉ trong chính những gia đình có con khiếm khuyết. Nhiều năm trời, không ít gia đình đã quen với việc giữ con trong nhà, hạn chế mọi cơ hội để con tiếp xúc với thế giới bên ngoài, coi đó là cách bảo vệ con khỏi những ánh mắt dò xét của làng xóm.

SUNG 11
Các bạn trẻ khiếm thính học làm muối trên gành đá. (Ảnh: HTX Du lịch cộng đồng làng Gò Cỏ)

Với họ, để con đi theo một người lạ, đến một nơi xa, đồng nghĩa với việc từ bỏ sự bảo vệ ấy - dù người lạ đó hứa hẹn một cuộc sống tốt hơn. Thậm chí, có người xem việc đó chẳng khác nào “phơi nỗi đau” ra trước thiên hạ. Ông không trách sự ngần ngại đó. Ông chỉ kiên trì quay lại nhiều lần hơn, để từng gia đình dần tin rằng con mình đến làng, không phải để bị nhìn như một gánh nặng, mà để được nhìn nhận như một người có giá trị riêng.

Một cậu bé tên N., chừng 13 tuổi, trí não không được trọn vẹn như những đứa trẻ cùng khác. Cậu quậy phá khắp làng, nhiều lúc nhào vào đoàn khách du lịch đang tham quan, nói cười hờ hệch, níu kéo, xin tiền khiến không ít người ngại ngùng, né tránh.

Bà con lắc đầu, kể N. rất khó bảo, không nghe lời ai. Nhưng hễ thấy bóng ông Đoàn Sung, cậu bé lập tức đứng khựng lại, líu ríu chạy tới, ngoan hẳn như một người khác. N. chỉ chịu nghe lời ông, và cũng chỉ thật sự trò chuyện được với ông - những câu chuyện chắp vá, đứt quãng, mà có lẽ chẳng ai khác có đủ kiên nhẫn ngồi nghe cho trọn.

SUNG 12
Ông Sung (bìa trái) cùng nhóm bạn trẻ khiếm thính trước không gian khởi nghiệp của họ. (Ảnh: HTX Du lịch cộng đồng làng Gò Cỏ)

Ông nói mình kiên nhẫn với N. đến vậy vì cậu bé và gia đình của cậu đều đặc biệt yếu thế. Ông cũng không xem cách mình cư xử với N. là điều gì to tát. Mỗi lần cậu bé quậy phá, thay vì quát nạt như người khác, ông ngồi xuống ngang tầm mắt, nở nụ cười và nói chuyện chậm rãi cho đến khi N. chịu yên. Ông chỉ giải thích ngắn gọn rằng, sở dĩ ông thương N. nhất trong đám trẻ yếu thế, là vì “nó lì giống tôi hồi nhỏ”.

box 4 (4)

Ông gọi cách làm này là “khởi nghiệp từ tâm” - cùng một triết lý ông từng thử nghiệm ở những cộng đồng bản địa nước ngoài, nơi con trai ông làm việc: nếu nói với một cộng đồng rằng “hãy để người ta đến xem các bạn”, họ sẽ từ chối, vì cảm thấy mình bị nhìn như một món trưng bày; nhưng nếu nói “hãy để người ta đến học từ các bạn, và tiền đó là học phí”, câu chuyện sẽ hoàn toàn khác.

Từ một ngôi làng đến một mạng lưới

Điều ông Đoàn Sung làm không dừng lại ở một ngôi làng. Tháng 4 năm 2025, Liên hiệp Hợp tác xã cộng đồng điều phối du lịch bền vững chính thức ra đời - liên hiệp hợp tác xã đầu tiên của Việt Nam theo mô hình này, với ông Đoàn Sung được bầu làm Giám đốc.

  • Thành viên: 6 hợp tác xã, trải dài từ phía Nam đến phía Bắc tỉnh Quảng Ngãi - HTX Du lịch cộng đồng làng Gò Cỏ, HTX làng Gò Ma Vương, HTX làng Thạnh Đức 1, HTX làng Long Thạnh 1, HTX Gốm tiền sử Sa Huỳnh (Phường Sa Huỳnh) và HTX Du lịch cộng đồng yêu chuộng hoà bình Sơn Mỹ (xã Tịnh Khê).
  • Lĩnh vực hoạt động: Du lịch nông thôn, bảo tồn di sản, nghiên cứu khoa học, phát triển cộng đồng và kinh tế bền vững.
  • Mục tiêu: Hỗ trợ các hợp tác xã thành viên xây dựng sản phẩm du lịch gắn với bảo tồn di sản, đào tạo nhân lực tại chỗ, kết nối tour - tuyến và đa dạng hoá trải nghiệm văn hoá Sa Huỳnh - Chăm Pa - Đại Việt quanh khu vực đầm An Khê.
SUNG 19
Liên hiệp Hợp tác xã cộng đồng điều phối du lịch bền vững ra đời tháng 4 năm 2025. (Ảnh: HTX Du lịch cộng đồng làng Gò Cỏ)
tít phụ 6

Năm 2018, ở tuổi 54, ông Đoàn Sung xin nghỉ hưu sớm. Ông nói, mình chọn rời đi vì nếu tiếp tục thì sẽ chỉ làm những việc quá dễ, trong khi điều ông thật sự muốn theo đuổi nằm ở một hướng khác - khó hơn, chậm hơn, dù không chắc sẽ thành công.

Có người hỏi ông, khi ông không còn ở Gò Cỏ nữa, liệu làng có giữ được những gì đã gây dựng hay không. Ông không trả lời trực tiếp, chỉ nhìn về phía những người trẻ chọn ở lại làng đồng hành với bà con, nhìn những bạn khiếm thính đang tự tin đứng lớp hướng dẫn khách làm gốm, và cả những đứa trẻ cặm cụi tìm cách xử lý một ống tre sao cho giữ được vị muối lâu hơn.

box 5

Có lẽ, câu trả lời cho câu hỏi ấy không nằm ở một cam kết hay một kế hoạch dài hạn nào ông từng công bố. Nó nằm ở việc, ngay lúc này, có một học sinh lớp Mười Một, sau chuyến đi Gò Cỏ đã viết lại rằng mình không rõ những hoạt động ở đây mang lại bao nhiêu thu nhập, nhưng đã “tìm lại được nội tâm và suy ngẫm về cuộc đời”.

Nó nằm ở việc một nhóm trẻ con thành phố, chỉ sau vài ngày, đã biết tự đi hỏi người lớn trong làng thay vì tự loay hoay với giải pháp. Và nó nằm ở việc, khi được hỏi vì sao lại chọn cách đầu tư chậm và khó đo đếm như vậy, ông chỉ nói một câu ngắn: ông không đầu tư vào công trình, ông đầu tư vào con người.

SUNG 17
Ông Đoàn Sung (đeo kính, góc trái ảnh) cùng học sinh Trường PTDTNT THCS Ba Tơ trong Bảo tàng Tổng hợp tỉnh Quảng Ngãi. Ở đây, ông Sung giới thiệu với các em về di sản gốm sứ được trục vớt từ con tàu cổ Bình Châu. (Ảnh: HTX Du lịch cộng đồng làng Gò Cỏ)

Những công trình có thể xuống cấp, có thể bị thay thế bởi một công trình khác lớn hơn, mới hơn. Nhưng một đứa trẻ từng học cách lắng nghe người lớn trong làng, một bạn trẻ khiếm thính từng được tin tưởng giao việc thay vì chỉ được thương hại, một người trẻ từng chọn ở lại vì tìm thấy một thứ tình người hiếm có - những điều đó, khi đã gieo xuống, sẽ tiếp tục lớn lên theo cách của riêng chúng, dù người gieo hạt - ông Đoàn Sung có còn đứng đó hay không./.