Đại biểu Quốc hội Trịnh Thị Tú Anh: Dinh dưỡng học đường là đầu tư cho chất lượng nguồn nhân lực
Bài viết này trong chuyên đề Dinh dưỡng học đường
Dinh dưỡng học đường liên quan trực tiếp đến thể chất, trí tuệ, sức khỏe lâu dài và chất lượng nguồn nhân lực. Việc xây dựng chính sách dinh dưỡng học đường cần được tiếp cận toàn diện, phù hợp với từng vùng miền và điều kiện của mỗi nhóm trẻ.
Trao đổi với phóng viên Tạp chí trẻ em Việt Nam về vấn đề này, Đại biểu Quốc hội Trịnh Thị Tú Anh, Đoàn ĐBQH tỉnh Lâm Đồng nhấn mạnh yêu cầu chuyển từ tư duy “đủ ăn” sang “dinh dưỡng đúng”, đồng thời xây dựng cơ chế phối hợp liên ngành để bảo đảm mọi trẻ em, dù ở đô thị hay vùng khó khăn, đều có cơ hội phát triển thể chất và trí tuệ một cách toàn diện.
PV: Thưa bà, dinh dưỡng học đường không chỉ liên quan đến bữa ăn của học sinh mà còn tác động trực tiếp đến thể chất, trí tuệ và sức khỏe lâu dài. Từ góc độ một Đại biểu Quốc hội, bà nhìn nhận vấn đề này như thế nào?
ĐBQH Trịnh Thị Tú Anh: Tôi cho rằng cần thay đổi cách nhìn về dinh dưỡng học đường. Đây không chỉ là câu chuyện một bữa ăn của trẻ ở trường, mà là một bộ phận của chính sách phát triển con người. Nếu giáo dục tạo ra tri thức, y tế bảo vệ sức khỏe thì dinh dưỡng cung cấp một trong những nền tảng vật chất để trẻ có thể học tập, phát triển thể chất và hình thành năng lực trong tương lai.
Điều đáng lưu ý là tác động của dinh dưỡng không chỉ thể hiện ở cân nặng hay chiều cao. Dinh dưỡng trong những năm đầu đời và giai đoạn học đường có liên quan chặt chẽ đến sự phát triển não bộ, khả năng tập trung, sức bền học tập, miễn dịch và nguy cơ mắc các bệnh không lây nhiễm về sau.
Một đứa trẻ thiếu dinh dưỡng có thể bị hạn chế về phát triển thể chất; nhưng một đứa trẻ thừa năng lượng, thiếu vận động, thiếu vi chất cũng có thể đối mặt với những vấn đề sức khỏe lâu dài. Vì vậy, “ăn đủ” chưa chắc đã đồng nghĩa với “dinh dưỡng đúng”.
Tôi đặc biệt muốn nhấn mạnh một khía cạnh của chính sách công là đầu tư cho dinh dưỡng trẻ em là đầu tư sớm để giảm chi phí xã hội trong tương lai. Nếu một trẻ em hôm nay được bảo đảm dinh dưỡng hợp lý, chúng ta không chỉ giúp em khỏe mạnh hơn mà còn nâng cao khả năng học tập, chất lượng nguồn nhân lực và giảm gánh nặng bệnh tật sau này.
Ở góc độ Quốc hội, cần nhìn dinh dưỡng học đường trong mối quan hệ với mục tiêu nâng cao chất lượng dân số và phát triển nguồn nhân lực. Đây cũng là vấn đề công bằng xã hội. Một đứa trẻ sinh ra trong gia đình có điều kiện có thể được bổ sung dinh dưỡng khá đầy đủ, nhưng một trẻ em ở vùng khó khăn thì cơ hội đó không giống nhau.
Do đó, mục tiêu cuối cùng không nên chỉ là có bữa ăn bán trú, mà phải là mọi trẻ em đều có cơ hội tiếp cận chế độ dinh dưỡng phù hợp với nhu cầu phát triển, an toàn, có chất lượng và không phụ thuộc quá mức vào nơi các em sinh ra hay điều kiện kinh tế của gia đình.
PV: Hiện nay, tình trạng dinh dưỡng của trẻ em có sự đan xen giữa suy dinh dưỡng, thiếu vi chất và thừa cân, béo phì. Theo bà, chính sách dinh dưỡng học đường cần thay đổi như thế nào để giải quyết đồng thời những vấn đề này?
ĐBQH Trịnh Thị Tú Anh: Điểm quan trọng nhất là chúng ta không thể giải quyết bài toán dinh dưỡng bằng một chính sách một khẩu phần cho tất cả. Việt Nam hiện đang đứng trước một gánh nặng kép, thậm chí là gánh nặng ba mặt về dinh dưỡng: ở một số nơi vẫn còn suy dinh dưỡng và thiếu vi chất; trong khi tại các đô thị và khu vực có điều kiện kinh tế tốt hơn, thừa cân, béo phì và chế độ ăn mất cân đối lại ngày càng đáng quan tâm. Điều này đòi hỏi chính sách phải chuyển từ “đủ no” sang dinh dưỡng hợp lý theo nhu cầu, lứa tuổi và điều kiện địa bàn.
Với trẻ em vùng khó khăn, ưu tiên vẫn phải là bảo đảm đủ năng lượng, protein và các vi chất thiết yếu. Nhưng ở khu vực đô thị, nếu chỉ tăng thêm năng lượng mà không kiểm soát chất lượng khẩu phần thì có thể vô tình làm trầm trọng thêm tình trạng thừa cân, béo phì.
Theo tôi, việc quản lý cần được thực hiện trên ít nhất bốn tầng. Thứ nhất là khẩu phần dinh dưỡng, phải có nguyên tắc về năng lượng, protein, chất béo, carbohydrate, rau quả và các vi chất phù hợp với từng nhóm tuổi.
Thứ hai là môi trường thực phẩm trong trường học. Không thể yêu cầu trẻ ăn uống lành mạnh trong bữa chính nhưng xung quanh trường lại rất dễ tiếp cận với đồ uống có đường, thực phẩm siêu chế biến hoặc các sản phẩm có giá trị dinh dưỡng thấp.
Thứ ba là vận động thể chất. Dinh dưỡng và vận động phải được nhìn nhận như hai mặt của cùng một bài toán sức khỏe. Không thể chống béo phì chỉ bằng cách cắt giảm thức ăn mà bỏ qua thời lượng vận động, thời gian ngồi trước màn hình và thói quen sinh hoạt.
Thứ tư là theo dõi cá thể hóa. Nhà trường cần phối hợp với y tế trường học để theo dõi chiều cao, cân nặng, chỉ số phát triển và những nguy cơ bất thường, thay vì chờ đến khi trẻ có vấn đề rõ rệt mới can thiệp.
Tôi nghĩ nguyên tắc rất quan trọng là chống suy dinh dưỡng không có nghĩa là chống đói; chống béo phì cũng không có nghĩa là bắt trẻ ăn kiêng. Chính sách phải hướng tới một chế độ ăn cân bằng và phù hợp với từng nhóm trẻ.
PV: Một trong những thách thức là điều kiện tổ chức bữa ăn học đường giữa các địa phương còn rất khác nhau, đặc biệt giữa khu vực đô thị, nông thôn, miền núi và vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Theo bà, cần có chính sách gì để bảo đảm trẻ em, dù ở đâu, cũng được tiếp cận những bữa ăn học đường đủ chất và an toàn?
ĐBQH Trịnh Thị Tú Anh: Nếu đặt cùng một yêu cầu về dinh dưỡng nhưng giao toàn bộ nguồn lực cho từng địa phương tự giải quyết thì rất dễ xảy ra tình trạng nơi có điều kiện thì chất lượng bữa ăn ngày càng tốt, nơi khó khăn thì khoảng cách ngày càng lớn.
Vì vậy, Nhà nước cần xác định một mức chuẩn tối thiểu về dinh dưỡng và an toàn thực phẩm, đồng thời có cơ chế phân bổ nguồn lực có tính đến sự khác biệt về điều kiện kinh tế - xã hội, địa hình và dân cư.
Tôi không cho rằng phải thiết kế một thực đơn giống nhau trên toàn quốc. Ngược lại, nên có chuẩn đầu ra thống nhất nhưng cho phép giải pháp đầu vào linh hoạt. Yêu cầu về năng lượng, các nhóm chất, vi chất và an toàn thực phẩm có thể được chuẩn hóa; nhưng thực phẩm cụ thể nên tận dụng nguồn thực phẩm an toàn, phù hợp với điều kiện sản xuất và văn hóa ẩm thực của từng địa phương.
Ở miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vấn đề không chỉ là tiền mua thực phẩm mà còn là khoảng cách địa lý, giao thông, bảo quản thực phẩm, nước sạch, điện, cơ sở vật chất nhà bếp và nhân lực. Vì vậy, chính sách hỗ trợ phải mang tính hệ sinh thái, không thể chỉ cấp thêm tiền ăn.
Tôi cũng cho rằng cần phát huy nguồn thực phẩm tại chỗ. Nếu có thể kết nối trường học với vùng sản xuất nông nghiệp an toàn, hợp tác xã, chuỗi cung ứng địa phương thì vừa bảo đảm nguồn thực phẩm, vừa tạo thị trường ổn định cho nông sản. Nhưng “tại chỗ” không đồng nghĩa với buông lỏng kiểm soát; nguồn cung vẫn phải đáp ứng các yêu cầu về truy xuất, kiểm nghiệm và an toàn thực phẩm.
Nguyên tắc chính sách nên là: chuẩn quốc gia về chất lượng, nguồn lực được phân bổ theo mức độ khó khăn, còn phương thức tổ chức phải phù hợp với thực tiễn từng vùng. Có như vậy mới biến mục tiêu bình đẳng thành bình đẳng thực chất.
PV: Với những địa bàn còn khó khăn, kinh phí dành cho bữa ăn bán trú, cơ sở vật chất nhà bếp và nhân lực phục vụ dinh dưỡng học đường vẫn là bài toán lớn. Theo bà, Nhà nước nên có cơ chế hỗ trợ như thế nào, và đâu là những nhóm học sinh cần được ưu tiên?
ĐBQH Trịnh Thị Tú Anh: Tôi cho rằng không nên nhìn kinh phí cho dinh dưỡng học đường chỉ như một khoản chi thường xuyên của ngành giáo dục. Với những địa bàn khó khăn, đây là một khoản đầu tư có mục tiêu vào trẻ em và nguồn nhân lực tương lai, vì vậy cần có cơ chế ngân sách phù hợp.
Trước hết, cần xác định rõ nhóm ưu tiên. Theo tôi, đó là trẻ em ở vùng đặc biệt khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi; trẻ em thuộc hộ nghèo, cận nghèo hoặc có hoàn cảnh đặc biệt; học sinh phải ở bán trú do điều kiện địa lý; và những nhóm có nguy cơ suy dinh dưỡng hoặc thiếu vi chất cao.
Nhưng hỗ trợ cũng cần được thiết kế đúng bản chất. Nếu chỉ cấp một khoản tiền ăn mà trường không có bếp đạt yêu cầu, không có nước sạch, kho bảo quản hoặc nhân lực thì nguồn tiền đó chưa chắc chuyển hóa thành một bữa ăn chất lượng.
Vì vậy, tôi nghiêng về cơ chế hỗ trợ nhiều tầng: hỗ trợ trực tiếp chi phí bữa ăn; đầu tư cơ sở vật chất bếp ăn, nhà ăn, nước sạch và thiết bị bảo quản; đồng thời có chính sách đối với nhân lực trực tiếp thực hiện công tác nuôi dưỡng.
Đặc biệt, cần tránh tư duy đầu tư một lần rồi để nhà trường tự duy trì. Một hệ thống bếp ăn muốn hoạt động an toàn phải có chi phí vận hành, bảo trì thiết bị, kiểm soát thực phẩm và đào tạo nhân viên.
Tôi cũng cho rằng cần nghiên cứu cơ chế huy động nguồn lực xã hội, nhưng phải giữ nguyên nguyên tắc trách nhiệm bảo đảm mức tối thiểu thuộc về Nhà nước. Không thể để quyền được ăn một bữa ăn đủ chất của trẻ em phụ thuộc vào khả năng vận động tài trợ của từng hiệu trưởng hay từng ban phụ huynh.
PV: Theo bà, việc bảo đảm dinh dưỡng học đường nên được nhìn nhận là một chính sách giáo dục hay một chính sách y tế, hay cần được tiếp cận theo hướng liên ngành giữa giáo dục, y tế và chính quyền địa phương?
ĐBQH Trịnh Thị Tú Anh: Nếu buộc phải lựa chọn một trong hai thì sẽ là một lựa chọn không đầy đủ. Dinh dưỡng học đường về bản chất là một chính sách liên ngành về phát triển con người.
Giáo dục là nơi tổ chức hoạt động học tập và trong nhiều trường hợp là nơi trẻ được chăm sóc, ăn uống trong phần lớn thời gian của ngày. Y tế có trách nhiệm về chuyên môn dinh dưỡng, theo dõi sức khỏe, phát hiện nguy cơ và hướng dẫn can thiệp. Chính quyền địa phương chịu trách nhiệm về nguồn lực, tổ chức thực hiện và điều kiện thực tế. Còn gia đình là chủ thể quyết định phần lớn chế độ ăn của trẻ ngoài nhà trường.
Nếu mỗi ngành chỉ làm phần việc của mình thì rất dễ xuất hiện “khoảng trống trách nhiệm”. Nhà trường nói đây là vấn đề y tế; y tế nói trường học thuộc ngành giáo dục; địa phương lại cho rằng đây là trách nhiệm của gia đình. Cuối cùng, đứa trẻ là người chịu hậu quả.
Vì vậy, cần phân định rất rõ ai chịu trách nhiệm về cái gì, nhưng đồng thời phải có cơ chế phối hợp liên ngành. Ngành giáo dục chịu trách nhiệm tổ chức môi trường học đường lành mạnh và quản lý việc thực hiện bữa ăn trong trường. Ngành y tế chịu trách nhiệm về tiêu chuẩn chuyên môn dinh dưỡng, theo dõi sức khỏe và hướng dẫn can thiệp. Chính quyền địa phương bảo đảm nguồn lực và tổ chức thực hiện phù hợp với địa bàn. Gia đình được cung cấp thông tin và tham gia giám sát.
Quan trọng hơn, cần có một hệ thống dữ liệu đủ tốt để các bên nhìn thấy cùng một vấn đề. Ví dụ, nếu một địa bàn có tỷ lệ suy dinh dưỡng cao thì ngành y tế phải biết, ngành giáo dục phải biết và chính quyền địa phương cũng phải biết để phân bổ nguồn lực.
Tôi không nghĩ vấn đề nằm ở việc giao cho bộ nào, mà nằm ở việc thiết kế một cơ chế mà trong đó không bộ, ngành hay địa phương nào có thể nói: đây không phải trách nhiệm của tôi.
PV: Thực tế cho thấy nhiều phụ huynh quan tâm đến việc con được ăn gì ở trường nhưng lại khó kiểm soát nguồn thực phẩm, khẩu phần và chất lượng bữa ăn. Theo bà, cần tăng tính minh bạch và trách nhiệm giải trình của nhà trường, đơn vị cung cấp suất ăn và cơ quan quản lý như thế nào?
ĐBQH Trịnh Thị Tú Anh: Với bữa ăn học đường, niềm tin của phụ huynh phải được xây dựng bằng thông tin và cơ chế kiểm soát, chứ không chỉ bằng cam kết.
Phụ huynh cần biết con mình được ăn gì, thực phẩm từ đâu, tiêu chuẩn nào được áp dụng và ai chịu trách nhiệm nếu có vấn đề. Nhưng minh bạch không có nghĩa là đẩy toàn bộ trách nhiệm giám sát cho phụ huynh. Một phụ huynh không thể hàng ngày kiểm nghiệm thực phẩm hay tính toán thành phần dinh dưỡng của từng khẩu phần.
Vì vậy, cần xây dựng một chuỗi trách nhiệm rõ ràng từ nguồn cung cấp – đơn vị chế biến – nhà trường – cơ quan quản lý, phải minh bạch thực đơn, định lượng khẩu phần, nguồn cung ứng thực phẩm và các điều kiện bảo đảm an toàn. Những thông tin này có thể được số hóa để phụ huynh dễ tiếp cận.
Đối với nhà cung cấp, hợp đồng không nên chỉ quy định giá một suất ăn mà phải quy định cả tiêu chuẩn chất lượng, nguồn gốc thực phẩm, quy trình bảo quản, trách nhiệm khi xảy ra sự cố và cơ chế kiểm tra độc lập.
Đối với nhà trường, cần xác định rõ trách nhiệm của người đứng đầu. Không thể có tình trạng khi xảy ra vấn đề thì trách nhiệm trở nên “tập thể”, nhưng khi ký hợp đồng hay lựa chọn nhà cung cấp lại không xác định được ai là người chịu trách nhiệm.
Cơ quan quản lý cũng phải thay đổi phương thức kiểm tra. Không nên chỉ kiểm tra theo kiểu “đến xem bếp có sạch không”, mà cần quản lý dựa trên nguy cơ, kết hợp kiểm tra định kỳ với kiểm tra đột xuất và truy xuất nguồn gốc khi có dấu hiệu bất thường.
Tôi đặc biệt quan tâm đến việc ứng dụng công nghệ. Nếu có thể xây dựng một hệ thống truy xuất từ nhà cung cấp đến trường học, lưu lại thông tin về lô hàng, thời gian giao nhận, thực đơn và phản ánh sự cố thì trách nhiệm sẽ cụ thể hơn rất nhiều. Mục tiêu cuối cùng không phải là tạo thêm thủ tục cho nhà trường mà là tạo ra một chuỗi trách nhiệm không bị đứt gãy.
PV: Bà từng nhấn mạnh vai trò của y tế cơ sở và y tế dự phòng trong chăm sóc sức khỏe nhân dân. Vậy theo bà, mạng lưới y tế trường học cần được củng cố ra sao để không chỉ xử lý các vấn đề sức khỏe thông thường mà còn theo dõi, phát hiện sớm nguy cơ suy dinh dưỡng, thừa cân, béo phì và thiếu vi chất ở học sinh?
ĐBQH Trịnh Thị Tú Anh: Đây là điểm rất quan trọng. Y tế trường học không nên chỉ được hiểu là nơi xử lý một học sinh đau bụng, sốt hay bị tai nạn trong giờ học. Nếu chỉ làm chức năng đó thì chúng ta mới sử dụng một phần rất nhỏ tiềm năng của y tế trường học.
Về bản chất, trường học là một môi trường lý tưởng cho y tế dự phòng vì đây là nơi tập trung một quần thể trẻ em tương đối ổn định, có thể theo dõi liên tục trong nhiều năm. Nếu tổ chức tốt, chúng ta có thể chuyển từ mô hình “phát hiện khi đã có bệnh” sang theo dõi nguy cơ và can thiệp sớm.
Với dinh dưỡng, tôi nghĩ cần hình thành một hồ sơ sức khỏe học sinh có các chỉ số cơ bản như chiều cao, cân nặng, diễn biến tăng trưởng và những yếu tố nguy cơ liên quan. Điều quan trọng không phải chỉ là một con số tại một thời điểm mà là xu hướng phát triển của từng trẻ.
Một trẻ tăng cân nhanh bất thường, một trẻ nhiều năm không tăng trưởng phù hợp, hay một nhóm học sinh trong cùng một địa bàn có dấu hiệu thiếu vi chất đều có thể là tín hiệu để y tế dự phòng can thiệp.
Tuy nhiên, để làm được điều đó, nhân lực y tế trường học phải có năng lực phù hợp. Không thể giao thêm nhiệm vụ nhưng không tăng năng lực chuyên môn, công cụ và thời gian thực hiện.
Tôi cũng cho rằng cần kết nối y tế trường học với trạm y tế cơ sở và hệ thống y tế tuyến trên. Trường học không phải bệnh viện và không nên biến thành một cơ sở khám chữa bệnh thu nhỏ. Vai trò của trường học là phát hiện sớm, theo dõi, tư vấn và chuyển tuyến khi cần thiết.
Công nghệ có thể hỗ trợ rất nhiều: dữ liệu tăng trưởng, dinh dưỡng và sức khỏe có thể được quản lý theo thời gian, nhưng phải bảo đảm quyền riêng tư và chỉ sử dụng cho mục tiêu chăm sóc sức khỏe.
Tôi muốn nhấn mạnh một nguyên tắc: y tế trường học phải được đặt vào vị trí của y tế dự phòng thực sự, nghĩa là không chờ trẻ bệnh mới chăm sóc, mà phải nhận diện nguy cơ trước khi bệnh xuất hiện.
PV: Giáo dục dinh dưỡng cho học sinh hiện nay còn chưa đồng đều. Theo bà, có cần đưa kiến thức về dinh dưỡng, kỹ năng lựa chọn thực phẩm và xây dựng thói quen ăn uống lành mạnh trở thành một nội dung giáo dục thường xuyên trong trường học hay không?
ĐBQH Trịnh Thị Tú Anh: Rất cần, nhưng phải xác định đúng mục tiêu. Giáo dục dinh dưỡng không phải để biến học sinh thành những chuyên gia dinh dưỡng, mà để các em có đủ hiểu biết để tự bảo vệ sức khỏe của mình.
Tôi nghĩ giáo dục dinh dưỡng nên được thiết kế theo lứa tuổi. Trẻ nhỏ có thể bắt đầu từ những khái niệm rất đơn giản: ăn đa dạng, uống nước, ăn rau quả, hạn chế đồ uống có đường, giữ vệ sinh thực phẩm. Học sinh lớn hơn có thể học cách đọc nhãn dinh dưỡng, nhận biết đường, muối, chất béo trong thực phẩm và hiểu mối quan hệ giữa chế độ ăn, vận động và sức khỏe.
Nhưng tôi không ủng hộ việc biến nội dung này thành một môn học nặng nề với thêm một hệ thống thi cử. Điều quan trọng là đưa dinh dưỡng vào đời sống học đường.
Bữa ăn tại trường có thể trở thành một phòng học thực tế là tại sao hôm nay có món này, các nhóm thực phẩm có vai trò gì, tại sao cần ăn rau, tại sao không nên uống quá nhiều nước ngọt. Các môn khoa học, sinh học, giáo dục thể chất và hoạt động trải nghiệm đều có thể tích hợp nội dung này.
Một vấn đề nữa là phải giáo dục cả phụ huynh. Nếu nhà trường dạy trẻ ăn uống lành mạnh nhưng gia đình lại hình thành thói quen hoàn toàn ngược lại thì hiệu quả sẽ rất hạn chế.
Tôi cũng muốn tránh cách tiếp cận mang tính áp đặt hoặc tạo mặc cảm cho trẻ thừa cân, béo phì. Giáo dục dinh dưỡng phải giúp trẻ hiểu và lựa chọn, chứ không tạo ra tâm lý kỳ thị ngoại hình.
PV: Từ góc độ xây dựng chính sách, theo bà cần có những chỉ tiêu hoặc tiêu chuẩn cụ thể nào để đánh giá một trường học đang thực hiện tốt công tác dinh dưỡng học đường, thay vì chỉ đánh giá dựa trên việc có tổ chức bữa ăn bán trú hay không?
ĐBQH Trịnh Thị Tú Anh: Đây chính là điểm cần đổi mới trong quản lý. Có bữa ăn bán trú không đồng nghĩa với có một hệ thống dinh dưỡng học đường tốt. Nếu chỉ dùng tiêu chí có hay không có bữa ăn thì chúng ta mới đo được đầu vào, chưa đo được chất lượng và kết quả.
Theo tôi, cần xây dựng một bộ tiêu chí theo nhiều nhóm.
Nhóm thứ nhất là tiêu chí đầu vào: cơ sở vật chất bếp ăn, nước sạch, thiết bị bảo quản, nhân lực và điều kiện vệ sinh.
Nhóm thứ hai là tiêu chí quy trình: nguồn gốc thực phẩm, kiểm soát nhà cung cấp, quy trình chế biến, lưu mẫu, kiểm soát an toàn thực phẩm và truy xuất khi có sự cố.
Nhóm thứ ba là tiêu chí về khẩu phần: mức độ đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng theo lứa tuổi, sự đa dạng thực phẩm, cân đối các nhóm chất và hạn chế những yếu tố không có lợi như quá nhiều đường, muối hoặc chất béo.
Nhóm thứ tư là tiêu chí về sức khỏe học sinh. Đây mới là nhóm rất quan trọng. Nhà trường cần theo dõi xu hướng tăng trưởng, tỷ lệ trẻ có nguy cơ suy dinh dưỡng, thừa cân, béo phì và khả năng phát hiện sớm những bất thường.
Nhóm thứ năm là tiêu chí về giáo dục và môi trường thực phẩm: học sinh có được giáo dục về dinh dưỡng hay không, môi trường xung quanh trường có khuyến khích lựa chọn lành mạnh hay không, học sinh có đủ cơ hội vận động thể chất hay không. Cuối cùng là tiêu chí minh bạch và sự hài lòng của phụ huynh, học sinh.
Tôi nghĩ chúng ta nên chuyển từ tư duy đánh giá “trường có tổ chức bữa ăn hay không” sang đánh giá theo chuỗi: đầu vào – quy trình – chất lượng khẩu phần – môi trường – kết quả sức khỏe.
Quan trọng nhất, bộ tiêu chí không nên trở thành thêm một bảng kiểm để giáo viên phải điền cho đủ. Nếu thiết kế tốt, dữ liệu quản lý có thể được số hóa và sử dụng luôn cho công tác chăm sóc sức khỏe học sinh.
Một trường học tốt về dinh dưỡng không phải là trường chi nhiều tiền nhất, mà là trường biết sử dụng nguồn lực để tạo ra kết quả sức khỏe và phát triển tốt nhất cho học sinh.
PV: Nếu được đề xuất một số giải pháp ưu tiên với Quốc hội và Chính phủ trong thời gian tới, bà sẽ kiến nghị những chính sách nào để nâng chất lượng dinh dưỡng học đường, giảm chênh lệch giữa các vùng miền và bảo đảm mọi trẻ em đều có cơ hội phát triển toàn diện?
ĐBQH Trịnh Thị Tú Anh: Nếu phải lựa chọn những việc ưu tiên, tôi sẽ không đề xuất quá nhiều chính sách cùng lúc mà tập trung vào một số điểm có tính nền tảng.
Thứ nhất, cần xây dựng một khung chính sách quốc gia về dinh dưỡng học đường với chuẩn tối thiểu rõ ràng. Chuẩn này phải bao gồm dinh dưỡng, an toàn thực phẩm, cơ sở vật chất, y tế trường học và giáo dục dinh dưỡng. Chuẩn phải đủ thống nhất để bảo đảm quyền lợi của trẻ em nhưng đủ linh hoạt để các địa phương áp dụng phù hợp với điều kiện thực tế.
Thứ hai, phải có cơ chế tài chính ưu tiên cho trẻ em và địa bàn khó khăn. Không thể yêu cầu miền núi, vùng dân tộc thiểu số thực hiện cùng một chuẩn nhưng lại phân bổ nguồn lực theo một công thức bình quân. Nguồn lực phải đi theo mức độ khó khăn và nhu cầu thực tế của trẻ em.
Thứ ba, củng cố y tế trường học và kết nối với y tế cơ sở. Đây là khâu “đầu tư để phát hiện sớm”. Nếu chúng ta theo dõi được tăng trưởng và tình trạng dinh dưỡng của trẻ từ sớm thì rất nhiều vấn đề có thể được xử lý trước khi trở thành gánh nặng bệnh tật.
Thứ tư, xây dựng hệ thống dữ liệu dinh dưỡng học đường, có khả năng theo dõi xu hướng theo địa phương, nhóm tuổi và nhóm nguy cơ. Chính sách muốn chính xác thì phải dựa trên dữ liệu, không thể chỉ dựa vào cảm nhận.
Thứ năm, tăng minh bạch và trách nhiệm giải trình trong bữa ăn học đường, đặc biệt về nguồn thực phẩm, nhà cung cấp, khẩu phần và an toàn thực phẩm.
Và cuối cùng, phải đặt dinh dưỡng học đường trong một chiến lược rộng hơn về phát triển con người. Chúng ta đang nói rất nhiều về nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, về chuyển đổi số, khoa học công nghệ và những động lực tăng trưởng mới. Nhưng trước khi một đứa trẻ trở thành kỹ sư, nhà khoa học, bác sĩ hay người lao động có kỹ năng, em ấy phải có một cơ thể khỏe mạnh và một bộ não được phát triển đầy đủ.
Xin trân trọng cảm ơn Đại biểu Quốc hội về cuộc phỏng vấn!











