Mô hình điểm bữa ăn học đường: Nền tảng khoa học cho mục tiêu nâng cao tầm vóc Việt
Mô hình điểm được triển khai tại 10 tỉnh, thành phố, kết hợp xây dựng thực đơn, giáo dục dinh dưỡng và tổ chức hoạt động thể lực cho học sinh. Kết quả thí điểm và các tài liệu hướng dẫn sau đó cung cấp thêm cơ sở chuyên môn cho việc tổ chức bữa ăn học đường.
Bài viết này trong chuyên đề Dinh dưỡng học đường
Bữa ăn học đường trong mô hình chăm sóc sức khỏe toàn diện
Từ năm 2013, Tập đoàn TH đã tham gia triển khai các chương trình dinh dưỡng học đường, trong đó có hoạt động tại các trường mầm non, tiểu học ở Nghĩa Đàn (cũ), Nghệ An. Trong năm học 2020-2021, TH tiếp tục đồng hành triển khai mô hình điểm “Bữa ăn học đường bảo đảm dinh dưỡng hợp lý kết hợp tăng cường hoạt động thể lực cho trẻ em, học sinh, sinh viên Việt Nam” tại 10 tỉnh, thành phố đại diện cho 5 vùng sinh thái trên cả nước.
Mô hình có sự tham gia của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Y tế, Bộ Khoa học Công nghệ, Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch thông qua Viện Dinh dưỡng Quốc gia, cùng các chuyên gia dinh dưỡng, thể lực trong nước và quốc tế. Chương trình hướng tới việc tổ chức bữa ăn phù hợp với nhu cầu dinh dưỡng của học sinh, đồng thời kết hợp giáo dục dinh dưỡng và tăng cường hoạt động thể lực.
Thạc sĩ Hà Thị Phương, Quản lý Dinh dưỡng, Viện Dinh dưỡng TH, cho biết trước khi triển khai, các địa phương được khảo sát về tình trạng dinh dưỡng của học sinh, kiến thức, thái độ và hành vi liên quan đến dinh dưỡng, vận động, cũng như điều kiện cơ sở vật chất tại trường học. Kết quả khảo sát là căn cứ để lựa chọn giải pháp phù hợp với điều kiện từng nơi.
Chương trình tổ chức tập huấn cho cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên bếp và nhân viên y tế; hỗ trợ các trường xây dựng thực đơn, tổ chức hoạt động thể lực và theo dõi quá trình thực hiện. Theo số liệu được công bố về mô hình, trong năm học thí điểm, 100% cán bộ quản lý, nhân viên bếp và nhân viên y tế, 94,4% giáo viên và 97,9% phụ huynh được truyền thông hoặc tập huấn về dinh dưỡng hợp lý, bữa ăn học đường và an toàn thực phẩm.
Bộ 400 thực đơn kết hợp giáo dục dinh dưỡng và vận động
Theo thạc sĩ Hà Thị Phương, một hợp phần quan trọng của mô hình là bộ 400 thực đơn được tính toán nhằm bảo đảm cân đối năng lượng và các chất dinh dưỡng theo nhu cầu của từng lứa tuổi. Việc xây dựng thực đơn còn tính đến sự đa dạng của thực phẩm, nguồn nguyên liệu tại địa phương và khả năng tổ chức của nhà trường.
Bộ thực đơn phong phú tạo thêm phương án lựa chọn cho nhà trường, nhưng không đồng nghĩa mọi trường có thể áp dụng giống nhau. Khi triển khai, thực đơn cần được điều chỉnh theo nguồn nguyên liệu, điều kiện chế biến và kinh phí, đồng thời giữ các yêu cầu dinh dưỡng cần thiết.
Trong mô hình, sữa tươi được đưa vào bữa phụ, 5 ngày mỗi tuần. Việc sử dụng sữa được đặt trong cách tổ chức khẩu phần tổng thể, cùng các nhóm thực phẩm khác và nhu cầu dinh dưỡng theo lứa tuổi.
Mô hình còn có các bài tập, trò chơi vận động và giáo án tham khảo dành cho trẻ mầm non, học sinh tiểu học theo từng lứa tuổi. Hoạt động giáo dục dinh dưỡng và truyền thông được triển khai cùng với nội dung vận động, nhằm hỗ trợ việc thực hiện tại trường và hình thành thói quen có lợi cho sức khỏe ở gia đình.
Tuy nhiên, điều kiện thực hiện giữa các trường không đồng đều. Theo thông tin từ TH, tại một số địa phương, cơ sở vật chất vẫn là khó khăn cần được quan tâm. Thực tế này cũng được đại diện Sở GD&ĐT TP Đà Nẵng (khu vực Quảng Nam cũ) đề cập khi nhìn nhận mô hình qua ba yếu tố: dinh dưỡng, thể chất và điều kiện thực hiện, trong đó có cơ sở vật chất, nhận thức của người triển khai và công tác truyền thông.
Nhân rộng mô hình, cần giữ vững yêu cầu chuyên môn
Kết quả đánh giá mô hình ghi nhận một số thay đổi về thể trạng và hoạt động thể lực của trẻ. Ở nhóm trẻ mầm non, chiều cao trung bình của nhóm can thiệp tăng 3,6 cm, so với 3,1 cm ở nhóm đối chứng. Cân nặng trung bình tăng lần lượt 1,2 kg và 1,4 kg. Các số liệu cho thấy mức thay đổi ở hai nhóm không giống nhau; cần đặt trong tổng thể kết quả đánh giá để xem xét tác động của mô hình.
Theo kết quả được công bố, tỉ lệ thừa cân, béo phì ở nhóm can thiệp giảm 2,68%, trong đó tỉ lệ béo phì giảm 1,55%; nhóm đối chứng ghi nhận tỉ lệ thừa cân, béo phì tăng nhẹ 0,23%. Kết quả đánh giá cũng ghi nhận sự cải thiện về thể lực ở nhóm trẻ tham gia mô hình. Có 95,8% trường học đánh giá các bài tập, trò chơi vận động có hiệu quả hoặc rất hiệu quả; khoảng 95% giáo viên và phụ huynh được khảo sát hài lòng hoặc rất hài lòng.
Theo khảo sát phụ huynh, 95,4% học sinh tham gia hoạt động thể lực ít nhất 60 phút mỗi ngày.
Sau giai đoạn thí điểm, việc tổ chức bữa ăn học đường kết hợp tăng cường hoạt động thể lực tiếp tục được cụ thể hóa bằng các tài liệu hướng dẫn chuyên môn. Ngày 10/8/2022, Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Quyết định số 2195/QĐ-BGDĐT, phê duyệt hướng dẫn tổ chức bữa ăn học đường kết hợp tăng cường hoạt động thể lực cho trẻ em, học sinh trong các cơ sở giáo dục mầm non và tiểu học. Tài liệu hướng dẫn từ khâu tổ chức bữa ăn, tăng cường hoạt động thể lực đến trách nhiệm phối hợp của cơ quan quản lý, nhà trường và gia đình. Đây là căn cứ chuyên môn để các cơ sở giáo dục triển khai và tập huấn nội dung chăm sóc dinh dưỡng kết hợp vận động cho trẻ.
PGS.TS Bùi Thị Nhung, Phó Chủ tịch Hội Dinh dưỡng Việt Nam, nguyên Trưởng khoa Dinh dưỡng học đường và nghề nghiệp, Viện Dinh dưỡng Quốc gia, đánh giá mô hình đáng chú ý ở bộ 400 thực đơn được xây dựng theo hướng cân đối dinh dưỡng và thích ứng với các vùng sinh thái.
Định hướng kết hợp dinh dưỡng hợp lý với hoạt động thể lực tiếp tục được đặt ra trong Chương trình Sức khỏe học đường giai đoạn 2026-2035, được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 973/QĐ-TTg ngày 1/6/2026. Chương trình giao Bộ Giáo dục và Đào tạo chủ trì, phối hợp với Bộ Y tế thực hiện nhiệm vụ nhân rộng mô hình bữa ăn học đường bảo đảm dinh dưỡng hợp lý kết hợp hoạt động thể lực. Việc triển khai cụ thể vẫn cần phù hợp với điều kiện của từng địa phương và cơ sở giáo dục.
Việc nhân rộng mô hình đòi hỏi duy trì chất lượng chuyên môn trong những điều kiện tổ chức bữa ăn và vận động khác nhau giữa các trường. Theo dõi kết quả thực hiện sẽ giúp các địa phương điều chỉnh giải pháp phù hợp hơn với nhu cầu của học sinh./.









