06:49 27/08/2026

Bỏ thi lớp 10, áp lực cạnh tranh có thực sự được loại bỏ?

Khi số học sinh có nhu cầu vào THPT vượt xa chỉ tiêu tuyển sinh, bỏ kỳ thi lớp 10 không có nghĩa là cuộc đua vào trường công lập sẽ chấm dứt. Theo các chuyên gia giáo dục, áp lực có thể chỉ chuyển từ phòng thi sang học bạ, điểm số và cả quá trình học tập.

Tại Hội nghị tổng kết năm học 2025 - 2026, triển khai nhiệm vụ năm học 2026 - 2027 vào ngày 21/8/2026, ông Nguyễn Văn Hiền - Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo Hà Nội, cho biết thành phố sẽ từng bước đổi mới kiểm tra, đánh giá theo hướng đánh giá định kỳ, xác thực kết quả đánh giá thường xuyên ở cấp THCS, tiến tới xét tốt nghiệp và có thể xét tuyển vào lớp 10.

Trước đây, Hà Nội chủ yếu tuyển sinh lớp 10 công lập bằng kỳ thi gồm Toán, Ngữ văn và môn thứ 3. Trong bối cảnh số học sinh tốt nghiệp THCS lớn, trong khi chỉ tiêu trường công lập còn hạn chế, kỳ thi vào lớp 10 tại Hà Nội luôn có mức độ cạnh tranh cao.

Việc chuyển từ thi tuyển sang xét tuyển vì thế đặt ra nhiều vấn đề: Liệu xét tuyển có thực sự giảm áp lực thi cử hay chỉ chuyển áp lực sang quá trình học tập? Làm thế nào để xác thực, chuẩn hóa kết quả đánh giá thường xuyên giữa các trường, bảo đảm công bằng, khách quan và hạn chế tình trạng chạy điểm, chênh lệch trong đánh giá?

de-thi-vao-lop-10-17249218966181321562239
Sự cạnh tranh trong kỳ thi tuyển sinh vào lớp 10 THPT công lập tại Hà Nội diễn ra còn căng thẳng hơn kỳ thi đại học. (Ảnh: Báo Chính phủ)

Khi chỗ học không đủ, nguy cơ tiêu cực vẫn tồn tại

Trao đổi với PV Tạp chí Trẻ em Việt Nam, TS. Lê Đông Phương - nguyên Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Giáo dục Đại học (Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam), cho rằng về lý thuyết, hai phương thức này không có quá nhiều khác biệt, song thi tuyển có khả năng đánh giá tổng thể hơn.

“Một thực tế không thể bác bỏ là việc sử dụng học bạ vẫn tồn tại nhiều vấn đề như bất công bằng, gian lận, tiêu cực phát sinh. Học bạ có thể bị chỉnh sửa tương đối dễ dàng và nhìn chung, độ tin cậy của kết quả học bạ đến nay vẫn được các nhà khoa học giáo dục đánh giá là thấp”, TS. Phương cảnh báo, đồng thời nhấn mạnh, nếu những vấn đề này không được kiểm soát chặt chẽ, không chỉ ảnh hưởng đến sự công bằng trong tuyển sinh mà còn có thể làm suy giảm uy tín của ngành giáo dục.

Theo TS. Lê Đông Phương, hiện nay Hà Nội có địa bàn rất đa dạng, từ khu vực nội đô tập trung đông dân cư đến các vùng có đồng bào dân tộc thiểu số, do đó điều kiện giáo dục và mức độ chênh lệch giữa các khu vực cũng rất khác nhau. Điều này có thể dẫn tới việc sử dụng học bạ làm căn cứ tuyển sinh trong giai đoạn hiện nay có thể tạo ra nhiều bất cập.

"Khả năng sàng lọc như vậy sẽ không chuẩn mực. Nghiêm trọng hơn, nó tạo cơ hội để những cá nhân muốn thao túng hoặc gian lận điểm học bạ thực hiện việc này", thầy Phương phân tích.

Trong khi đó, thi tuyển dù có những hạn chế nhất định, như tạo thêm một kỳ thi khiến học sinh căng thẳng hơn và đặt ra yêu cầu cao đối với công tác tổ chức, nhưng điểm thi vẫn tạo ra một mặt bằng chung tương đối rõ ràng để đánh giá học sinh.

"Cá nhân tôi cho rằng, trong bối cảnh hiện tại của Hà Nội, việc xét tuyển học bạ chưa thể áp dụng thay thế cho phương án thi vào lớp 10", TS. Lê Đông Phương nhấn mạnh và chỉ ra rằng dù hiện nay có chủ trương phổ cập THPT và các chương trình tương đương, trong đó có hướng phát triển trung học nghề, nhưng trong 1-2 năm tới, hệ thống trung học nghề tại Hà Nội chưa thể phổ biến rộng rãi. Nguyên nhân là cơ sở vật chất, chương trình đào tạo cũng như đội ngũ giáo viên vẫn chưa được chuẩn bị đầy đủ. Do đó, dù lựa chọn thi hay xét học bạ, tính sàng lọc trong tuyển sinh lớp 10 vẫn còn rất cao.

"Năm vừa rồi, chúng ta chỉ có khoảng hơn 60% học sinh vào được lớp 10 công lập, rõ ràng tính sàng lọc của kỳ thi là rất cao. Do đó, tôi thiên về quan điểm không nên sử dụng xét học bạ trong vòng 2 năm tới để có sự chuẩn bị thật kỹ về mọi điều kiện rồi mới áp dụng", thầy Phương nêu quan điểm.

ts-le-dong-phuong-8361
Theo TS. Lê Đông Phương, trong điều kiện hiện nay của Hà Nội, việc tuyển sinh vào lớp 10 vẫn cần có một phương thức sàng lọc đủ tin cậy, bởi số học sinh hoàn thành lớp 9 có nhu cầu vào lớp 10 rất lớn, trong khi khả năng đáp ứng của thành phố về số lượng trường, lớp THPT còn hạn chế. (Ảnh: VOV2)

Chia sẻ với Tạp chí Trẻ em Việt Nam, ThS. Đinh Đức Hiền - chuyên gia giáo dục, Giám đốc điều hành Trường TH, THCS, THPT FPT Bắc Giang cho rằng, khi số học sinh có nhu cầu vào những trường THPT có sức hút vẫn lớn hơn số chỗ học, cạnh tranh chắc chắn vẫn tồn tại. Bên cạnh đó, chất lượng đào tạo giữa các trường không đồng đều, trong khi mức độ thu hút học sinh của mỗi trường cũng khác nhau. Vì vậy, nếu không còn cạnh tranh bằng điểm thi, sự cạnh tranh có thể chuyển sang các tiêu chí xét tuyển. Nếu điểm học tập trở thành "tấm vé" vào lớp 10, mỗi bài kiểm tra có nguy cơ trở thành một "kỳ thi vào lớp 10 thu nhỏ".

Điều này có thể dẫn đến ba hệ quả:

Thứ nhất, áp lực điểm số sẽ kéo dài. Học sinh không chỉ căng thẳng trong vài tháng cuối lớp 9 mà có thể bắt đầu lo lắng về điểm số từ lớp 6, lớp 7, lớp 8.

Thứ hai là nguy cơ lạm phát điểm số, chạy điểm, xin điểm và gia tăng áp lực từ phụ huynh đối với giáo viên. Một điểm 8 hay 9 trước đây chủ yếu phản ánh kết quả học tập của học sinh. Nhưng nếu điểm số trực tiếp quyết định cơ hội vào THPT, giá trị của điểm số sẽ thay đổi, đồng thời sức ép đối với người cho điểm cũng tăng lên.

Thứ ba, học thêm có thể không giảm. Nếu xã hội hiểu rằng mọi bài kiểm tra đều có ảnh hưởng đến kết quả tuyển sinh, nhu cầu học thêm thậm chí có thể trải đều ở nhiều môn và kéo dài trong nhiều năm. Vì vậy, không thể chỉ thay đổi phương thức tuyển sinh rồi kỳ vọng hành vi xã hội sẽ tự động thay đổi theo hướng tốt hơn.

Chuyên gia giáo dục Đinh Đức Hiền nhấn mạnh về những điểm tích cực:

Thứ nhất, ưu điểm nổi trội của phương án này là giảm tính chất "được - mất trong một kỳ thi". Một học sinh học tập tốt trong nhiều năm nhưng vì lý do sức khỏe, tâm lý hoặc chỉ một sai sót trong một buổi thi có thể mất cơ hội vào trường mong muốn. Nếu kết quả của cả một quá trình học tập được đánh giá đủ tin cậy, việc tuyển sinh sẽ phản ánh đầy đủ hơn năng lực cũng như sự tiến bộ của học sinh.

Thứ hai, về mặt giáo dục, xét tuyển dựa trên quá trình học tập có thể đưa kiểm tra, đánh giá trở về đúng vai trò vốn có: không chỉ nhằm xếp hạng học sinh mà còn giúp giáo viên nhận biết các em đang thiếu gì, cần được hỗ trợ ở đâu và cần điều chỉnh việc dạy học như thế nào. Đây cũng chính là tinh thần Hà Nội đang đặt ra khi đề cập đến việc đánh giá thường xuyên nhằm cải tiến chất lượng.

Thứ ba, nếu được thực hiện tốt, phương án này có thể giảm đáng kể thời gian luyện thi cấp tốc, giảm tâm lý căng thẳng trước một kỳ thi có tính quyết định rất cao, đồng thời tiết kiệm một nguồn lực rất lớn cho xã hội trong việc tổ chức thi và luyện thi.

Tuy nhiên, theo ThS. Đinh Đức Hiền, điểm mấu chốt nằm ở hai chữ "nếu làm tốt", bởi chuyển từ thi tuyển sang xét tuyển thực chất là chuyển từ việc đặt niềm tin vào một kỳ thi được chuẩn hóa sang đặt niềm tin vào toàn bộ hệ thống đánh giá của hàng nghìn giáo viên và hàng trăm nhà trường. Điều đó không đơn giản hơn, thậm chí về mặt quản trị còn khó hơn rất nhiều.

z8190978532483_2e12bacdad7991e22ab04e199784e3b1
ThS. Đinh Đức Hiền cho rằng Hà Nội có thể cân nhắc mô hình xét tuyển kết hợp trong giai đoạn chuyển tiếp, thay vì chuyển ngay từ 100% thi tuyển sang 100% xét học bạ; chính sách cần được thử nghiệm, đo lường trước khi mở rộng. (Ảnh: NVCC)

Xét học bạ có thể chuyển áp lực thi cử sang cả quá trình học tập

Theo ThS. Đinh Đức Hiền, nếu phương thức xét tuyển phụ thuộc quá nhiều vào điểm số từng năm, áp lực có thể không biến mất mà chỉ bị kéo dài.

"Trước đây, áp lực tập trung rất cao vào một kỳ thi, sau này có thể áp lực thấp hơn ở từng thời điểm nhưng kéo dài suốt bốn năm THCS. Chúng ta không nên mặc nhiên coi trạng thái thứ hai là tốt hơn. Không thể thay một áp lực rất cao trong vài ngày, vài tuần bằng một áp lực âm ỉ trong bốn năm rồi gọi đó là đã giải quyết được áp lực thi cử", thầy Hiền nói.

Theo chuyên gia, cách dạy học cũng sẽ thay đổi theo phương thức đánh giá. Nếu các đợt đánh giá định kỳ chung được thiết kế tốt, giáo viên sẽ có dữ liệu khách quan hơn để điều chỉnh việc dạy học. Nhưng nếu kết quả những đợt đánh giá này trở thành căn cứ xếp hạng tuyển sinh quá mạnh, hệ thống có nguy cơ chuyển từ "luyện thi lớp 10" sang "luyện đánh giá định kỳ".

"Vì vậy, vấn đề không phải là bỏ hay giữ kỳ thi, mà là thiết kế cơ chế đánh giá như thế nào để cách tốt nhất giúp học sinh có kết quả tốt chính là học thật, chứ không phải luyện mẹo, chạy điểm hay làm đẹp hồ sơ", thầy Hiền nhấn mạnh.

1780150537104_z7878142976
Chừng nào còn thiếu trường THPT, mọi phương án như thi hai môn, xét tuyển vẫn chỉ là hình thức thay thế, còn áp lực vẫn không thay đổi. (Ảnh: Vietnamnet)

Theo TS. Lê Đông Phương, tình trạng chạy điểm hay làm giả học bạ vốn đã tồn tại. Nếu thành phố chuyển sang xét học bạ trong khi khả năng đáp ứng chỗ học chưa ở mức tương đối đầy đủ, những tiêu cực này càng có nguy cơ phát sinh. Đặc biệt, khi quyền xác nhận học bạ nằm ở từng trường, việc kiểm soát và phát hiện những trường hợp can thiệp, gian lận sẽ càng khó khăn hơn.

"Nếu phương án là sử dụng kết quả học bạ để xét tuyển học sinh theo từng khu vực hành chính, ông cho rằng cách làm này có thể hợp lý ở một số địa bàn nhất định. Ví dụ, tại một số khu vực ngoại thành hoặc một số xã cách xa trung tâm, việc xét học bạ có thể được cân nhắc bởi áp lực tuyển sinh vào lớp 10 tại những nơi này không lớn như khu vực nội đô", thầy Phương nêu quan điểm.

Vì vậy, theo TS. Lê Đông Phương, ở những địa bàn mà nhu cầu vào lớp 10 không quá cao so với khả năng đáp ứng, xét học bạ có thể là một phương án có cơ sở để cân nhắc. Ngược lại, tại các khu vực nội thành hoặc những địa bàn phát triển quanh trung tâm, nơi cạnh tranh vào lớp 10 lớn, ông cho rằng xét học bạ tiềm ẩn nhiều rủi ro.

Bỏ thi lớp 10 cần giải bài toán cung - cầu 

Theo TS. Lê Đông Phương, vấn đề quan trọng nhất là Hà Nội phải bảo đảm đủ chỗ học cho học sinh sau THCS, bao gồm cả THPT và trung học nghề. "Nếu số chỗ học có thể đáp ứng khoảng 80-90% nhu cầu thì xét học bạ sẽ hợp lý, nhưng nếu mới chỉ đáp ứng khoảng 60-70% như hiện nay thì thi tuyển vẫn sẽ phù hợp hơn", thầy Phương nói.

Trong trường hợp Hà Nội có thể đáp ứng đầy đủ nhu cầu học THPT và trung học nghề, việc sử dụng kết quả học bạ để tuyển sinh có thể được cân nhắc. Tuy nhiên, theo TS. Phương, khi đó cần xây dựng cơ chế kiểm soát chặt chẽ.

Cụ thể, điểm học bạ phải được chốt sau mỗi học kỳ và không được tùy tiện thay đổi vì bất kỳ lý do nào sau khi đã chốt. Đồng thời, công tác thanh tra, kiểm tra của Sở Giáo dục và Đào tạo đối với hoạt động đánh giá học sinh tại các trường cũng cần được tăng cường, bảo đảm kết quả học tập có độ tin cậy và công bằng.

Theo ThS. Đinh Đức Hiền, nếu Hà Nội thực sự tiến tới bỏ kỳ thi tuyển sinh lớp 10, có ít nhất năm điều kiện cần được chuẩn bị kỹ lưỡng để vừa giảm áp lực cho học sinh, vừa bảo đảm công bằng trong tuyển sinh.

Thứ nhất, phải có một chuẩn đánh giá chung đủ tin cậy. Không thể xét tuyển dựa trên kết quả của hàng trăm trường nếu mỗi nơi hiểu yêu cầu cần đạt và cho điểm theo một cách khác nhau. Vì vậy, cần xây dựng khung đánh giá, ma trận, ngân hàng câu hỏi, rubrics và cơ chế hiệu chuẩn thống nhất.

Thứ hai, phải xây dựng hệ thống dữ liệu học tập đáng tin cậy. Dữ liệu cần được quản lý xuyên suốt, có dấu vết chỉnh sửa và khả năng phát hiện những biến động bất thường về điểm số giữa các lớp, các trường và các năm học. Với quy mô hơn 2,3 triệu học sinh của Hà Nội, đây không chỉ là vấn đề chuyên môn mà còn là một bài toán quản trị dữ liệu rất lớn.

Thứ ba, cần chuẩn hóa và bảo vệ đội ngũ giáo viên. Giáo viên phải được tập huấn để đánh giá thống nhất, đồng thời cần có cơ chế bảo vệ họ trước sức ép xin điểm, nâng điểm từ phụ huynh hoặc áp lực thành tích của nhà trường. Khi điểm số do giáo viên cho trực tiếp ảnh hưởng đến cơ hội tuyển sinh của học sinh, trách nhiệm và sức ép nghề nghiệp sẽ tăng lên rất nhiều.

Thứ tư, phải có cơ chế giám sát độc lập và đủ mạnh. Có thể thực hiện kiểm tra chéo giữa các trường, chấm thẩm định ngẫu nhiên, phân tích dữ liệu để phát hiện những trường có phân bố điểm bất thường, thanh tra đột xuất và xây dựng cơ chế khiếu nại minh bạch. Công nghệ và AI hoàn toàn có thể hỗ trợ phát hiện bất thường, nhưng quyết định cuối cùng vẫn phải dựa trên cơ chế chuyên môn và trách nhiệm của con người.

Thứ năm, và có lẽ quan trọng nhất, phải nhìn lại bài toán cung - cầu của THPT công lập. Phương thức tuyển sinh không thể tự giải quyết áp lực nếu số chỗ học ở những trường được xã hội mong muốn vẫn thấp hơn rất nhiều so với nhu cầu.

Năm 2026, Hà Nội có gần 125.000 thí sinh dự kỳ thi lớp 10 và phải huy động 224 điểm thi, gần 18.000 cán bộ, giáo viên, nhân viên để tổ chức. Quy mô này cho thấy đây là một bài toán xã hội rất lớn, không chỉ đơn thuần là bài toán kỹ thuật thi cử.

Theo ThS Đinh Đức Hiền, muốn giảm áp lực một cách bền vững, Hà Nội phải đồng thời mở rộng cơ hội học tập, giảm khoảng cách chất lượng giữa các trường và làm cho nhiều con đường sau THCS đều có giá trị, thay vì chỉ thay đổi cách lựa chọn học sinh vào một số trường đang có mức độ cạnh tranh cao.

Vì vậy, nếu Hà Nội muốn tiến tới xét tuyển lớp 10, ông cho rằng đây là hướng đi đáng được nghiên cứu và thử nghiệm. Tuy nhiên, quá trình này nên được thực hiện từng bước, có dữ liệu kiểm chứng, có giai đoạn chạy thử song song và đặc biệt không nên thay đổi đột ngột đối với những lứa học sinh đã bước vào quá trình chuẩn bị.

"Chúng ta phải xác định rõ, mục tiêu cuối cùng không phải là 'bỏ được một kỳ thi'. Mục tiêu phải là xây dựng được một cơ chế tuyển sinh ít áp lực hơn, phản ánh đúng năng lực hơn và quan trọng nhất là công bằng hơn. Nếu chưa bảo đảm được ba điều đó thì thay đổi phương thức mới chỉ là chuyển nơi đặt áp lực, chứ chưa thực sự giải quyết được áp lực", thầy Hiền nhấn mạnh.

Hằng năm, Hà Nội có số lượng học sinh tốt nghiệp THCS rất lớn nhưng chỉ có hơn 120 trường THPT công lập dẫn đến việc thí sinh cạnh tranh nhau gay gắt để giành “tấm vé” vào lớp 10 trường công.

Năm ngoái, Hà Nội có khoảng 147.000 học sinh hoàn thành chương trình lớp 9. Sau khi định hướng nghề nghiệp, phân luồng có hơn 102.000 em dự kỳ thi tuyển sinh vào lớp 10. Trong khi đó, các trường THPT công lập chỉ tuyển khoảng 82.000 học sinh. Số còn lại, học sinh sẽ học ở các trường THPT tư thục, Trung tâm Giáo dục thường xuyên - Giáo dục nghề nghiệp và các cơ sở giáo dục nghề nghiệp.