Giao lưu trực tuyến: Làm gì để ngăn chặn bạo lực núp bóng “yêu thương”?
Tạp chí Trẻ em Việt Nam
Giao lưu trực tuyến với chủ đề “Làm gì để ngăn chặn bạo lực núp bóng ‘yêu thương’?” diễn ra từ 9h30 hôm nay (14/8), với sự tham gia của các chuyên gia trong lĩnh vực bảo vệ quyền trẻ em, pháp luật và tâm lý.
Đâu là nguyên nhân khiến bạo lực vẫn xảy ra với trẻ? Vì sao những hành vi gây tổn thương đôi khi bị xem nhẹ, thậm chí được bao biện dưới danh nghĩa “dạy dỗ”, “yêu thương”? Làm thế nào để nhận diện và ngăn chặn bạo lực từ sớm, xây dựng môi trường an toàn để trẻ được lớn lên trong sự yêu thương đúng nghĩa?
Liên tiếp những vụ việc trẻ em bị bạo hành khiến dư luận phẫn nộ, từ vụ 5 chú tiểu bị đánh tại chùa Bầu (Phú Thọ) đến vụ bảo mẫu bạo hành trẻ tại Cơ sở mầm non Lá Xanh (TP.HCM), cùng nhiều vụ việc bạo hành xảy ra trong gia đình. Đằng sau mỗi vụ việc là những tổn thương không chỉ về thể chất mà còn có thể kéo dài về tinh thần, ảnh hưởng đến quá trình phát triển của trẻ.
Từ thực tế này, Tạp chí Trẻ em Việt Nam tổ chức giao lưu trực tuyến với chủ đề “Làm gì để ngăn chặn bạo lực núp bóng ‘yêu thương’?”, nhằm cùng các chuyên gia phân tích nguyên nhân, nhận diện những biểu hiện bạo lực thường bị bỏ qua, chỉ ra những khoảng trống trong nhận thức, trách nhiệm và cơ chế bảo vệ trẻ; đồng thời đề xuất những giải pháp thiết thực để phòng ngừa, can thiệp và bảo vệ trẻ em hiệu quả hơn.
Giao lưu trực tuyến có sự tham dự của:
1. Ông Hà Đình Bốn – Phó Chủ tịch Hội Bảo vệ quyền trẻ em Việt Nam, nguyên Vụ trưởng Vụ Pháp chế (Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội).
2. Bà Mai Thị Ngọc Mai – Chủ tịch Hội Bảo vệ quyền trẻ em TP.HCM.
3. Luật sư Phạm Thị Bích Hảo – Ủy viên Ban Chấp hành Hội Bảo vệ quyền trẻ em Việt Nam.
4. TS. Phạm Tiến Sỹ – Giảng viên Trường Đại học Khoa học, Đại học Huế.
Ngay lúc này, quý độc giả có thể theo dõi giao lưu trực tuyến và gửi câu hỏi, chia sẻ những vấn đề quan tâm tới các chuyên gia thông qua Fanpage của Tạp chí Trẻ em Việt Nam: https://web.facebook.com/tapchitreemvietnam; hoặc qua Diễn đàn Trẻ em Việt Nam: https://web.facebook.com/groups/diendantreemvietnam
Hãy cùng tham gia để góp thêm tiếng nói trong hành trình nhận diện bạo lực, ngăn chặn tổn thương và xây dựng môi trường an toàn, yêu thương đúng nghĩa cho mọi trẻ em.
10h05
Độc giả Thuý Hằng (Bắc Ninh) gửi câu hỏi tới bà Mai Thị Ngọc Mai: Theo bà Mai Thị Ngọc Mai, người lớn cần làm gì để nhận diện sớm những dấu hiệu cho thấy một trẻ đang có nguy cơ bị bạo hành hoặc xâm hại?
Bà Mai Thị Ngọc Mai: Điều đầu tiên là người lớn phải quan tâm và lắng nghe trẻ nhiều hơn. Không phải trẻ nào gặp vấn đề cũng có thể nói ngay rằng mình đang bị bạo hành hoặc xâm hại.
Người lớn nên chú ý những thay đổi bất thường kéo dài của trẻ như đột nhiên sợ hãi hoặc né tránh một người, thay đổi rõ rệt về tâm trạng và hành vi, thu mình, mất ngủ, giảm kết quả học tập, không muốn đến trường hoặc đến một địa điểm nào đó; có thương tích nhưng cách giải thích không rõ ràng; hoặc trẻ có những biểu hiện lo lắng, bất an mà trước đây không có. Đây là những dấu hiệu cần được quan tâm, nhưng không nên chỉ dựa vào một biểu hiện đơn lẻ để kết luận.
Quan trọng nhất, khi trẻ chia sẻ điều gì đó bất thường, người lớn cần bình tĩnh, lắng nghe và tạo cho trẻ cảm giác an toàn. Không nên trách móc, gây áp lực hoặc làm cho trẻ cảm thấy mình có lỗi.
Một nguyên tắc rất đơn giản là: thấy trẻ thay đổi thì đừng bỏ qua; trẻ lên tiếng thì phải lắng nghe; có dấu hiệu nguy cơ thì phải tìm sự hỗ trợ chuyên môn kịp thời.
10:00
Độc giả Minh Trang (Hà Nội) gửi câu hỏi tới TS. Phạm Tiến Sỹ: Gia đình, nhà trường và người chăm sóc lẽ ra phải là những nơi an toàn nhất đối với trẻ. Nhưng thực tế, nhiều vụ bạo hành lại xảy ra chính trong những môi trường này, thậm chí người gây tổn thương là người trẻ tin tưởng và phụ thuộc nhất. Dưới góc nhìn tâm lý học, điều gì khiến một người lớn có thể vượt qua ranh giới đạo đức và gây tổn thương cho một đứa trẻ? Đó là vấn đề của sự mất kiểm soát, nhận thức lệch lạc hay còn những nguyên nhân sâu xa nào khác?
TS. Phạm Tiến Sỹ: Các nghiên cứu chỉ ra, trải nghiệm căng thẳng trong việc nuôi dạy con cái; cảm xúc tiêu cực; thiếu kĩ năng nuôi dạy con và việc lạm dụng rượu bia, chất kích thích của người chăm sóc có liên quan đến việc bạo lực với trẻ. Tôi cho rằng hành vi hung hăng, bạo lực đối với con cái thường là bề nổi cảm xúc của cha mẹ. Tức là nếu cha mẹ không có khả năng kiểm soát cảm xúc và thiếu kĩ năng giáo dục con cái có thể dẫn đến những hành vi bạo lực mang tính bột phát.
Điều này thường gặp ở những cha mẹ/người chăm sóc có hành vi bạo lực với trẻ, nhưng sau khi cơn giận dịu xuống lại quay ra tự trách bản thân và “chuộc lỗi” bằng sự nuông chiều hay bù đắp. Tuy nhiên, nếu hành vi bạo lực này lặp lại, gia tăng và có tính chất hành hung thì nó lại liên quan đến thói quen hành vi, niềm tin sai lệch về phương pháp giáo dục đòn roi, và quan trọng hơn là sự thiếu kiểm soát về tâm trí khi người bạo hành chưa nhận thức đầy đủ về tính chất nghiệm trọng của hành vi.
09:55
Độc giả Anh Quân (Đồng Nai) gửi câu hỏi tới Luật sư Phạm Thị Bích Hảo: Từ những vụ việc trẻ em bị bạo hành trong các môi trường chăm sóc ngoài gia đình, theo luật sư, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt thường phải đối mặt với những nguy cơ và tổn thương đặc thù nào? Nhìn rộng hơn, qua những vụ việc này, đâu là những khoảng trống trong công tác bảo vệ trẻ em yếu thế hiện nay cần được đặc biệt lưu ý và khắc phục?
Luật sư Phạm Thị Bích Hảo: Theo tôi, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, trẻ em yếu thế khi được chăm sóc ngoài gia đình có nguy cơ bị tổn thương cao hơn bởi các em thường phụ thuộc nhiều vào người trực tiếp chăm sóc và khả năng tự bảo vệ, tự lên tiếng còn hạn chế. Khi xảy ra bạo lực hoặc bị đối xử không phù hợp, trẻ không phải lúc nào cũng biết cách phản ánh, cũng không dễ dàng tìm được người hỗ trợ hoặc thoát khỏi môi trường đó.
Tổn thương đối với trẻ cũng không chỉ là những thương tích nhìn thấy được. Việc thường xuyên bị quát mắng, đe dọa, đánh đập hoặc đối xử hà khắc có thể khiến trẻ sợ hãi, mất cảm giác an toàn, ảnh hưởng đến lòng tin, tâm lý và quá trình phát triển lâu dài. Đặc biệt, với những trẻ vốn đã có hoàn cảnh khó khăn hoặc từng chịu nhiều thiệt thòi, những trải nghiệm tiêu cực này có thể khiến các em càng dễ bị tổn thương.
Pháp luật đã quy định rất rõ trẻ em có quyền được bảo vệ khỏi bạo lực, bỏ rơi, bỏ mặc và nghiêm cấm các hành vi xâm hại, bạo lực, lạm dụng, bóc lột trẻ em. Tuy nhiên, từ thực tế những vụ việc xảy ra ở nhiều môi trường khác nhau, tôi cho rằng khoảng trống hiện nay không hẳn nằm ở việc thiếu quy định pháp luật, mà quan trọng hơn là cơ chế giám sát, phát hiện và can thiệp trên thực tế.
Khi một đứa trẻ được đưa vào cơ sở chăm sóc ngoài gia đình, việc kiểm tra không nên chỉ dừng lại ở thời điểm cơ sở tiếp nhận trẻ mà cần được thực hiện thường xuyên. Chúng ta cần có cách để biết trẻ đang được chăm sóc như thế nào, có được đối xử đúng mực hay không và có xuất hiện những dấu hiệu bất thường về thể chất, tâm lý hay hành vi hay không.
Theo tôi, cần tăng cường trách nhiệm của chính quyền địa phương và các cơ quan, tổ chức liên quan trong việc kiểm tra, giám sát các cơ sở chăm sóc trẻ; đồng thời tạo ra những kênh phản ánh an toàn, dễ tiếp cận để chính trẻ, gia đình và những người xung quanh có thể lên tiếng khi phát hiện nguy cơ.
Quan trọng nhất, không nên chờ đến khi trẻ bị thương hoặc vụ việc bị phát hiện trên mạng xã hội mới can thiệp. Bảo vệ trẻ em phải bắt đầu từ việc nhận diện nguy cơ và can thiệp sớm. Với trẻ yếu thế, một hệ thống bảo vệ hiệu quả phải đủ gần để nhìn thấy, đủ nhanh để can thiệp và đủ trách nhiệm để không bỏ sót bất kỳ dấu hiệu tổn thương nào của trẻ.
09:50
Độc giả Kiều Oanh (Cần Thơ) gửi câu hỏi tới bà Mai Thị Ngọc Mai: Thưa bà Mai Thị Ngọc Mai, thời gian qua liên tiếp xảy ra những vụ việc trẻ em bị bạo hành, xâm hại gây bức xúc trong dư luận. Từ góc độ của Hội Bảo vệ Quyền trẻ em TP. Hồ Chí Minh, bà nhìn nhận như thế nào về thực trạng này?
Bà Mai Thị Ngọc Mai: Đúng vậy! Bạo lực, xâm hại trẻ em vẫn là vấn đề cần được quan tâm thường xuyên và có giải pháp phòng ngừa từ sớm, từ xa.
Điều đáng lưu ý là nguy cơ có thể xuất hiện ở nhiều môi trường khác nhau, từ gia đình, nhà trường, cộng đồng đến không gian mạng. Trong nhiều trường hợp, trẻ có thể chưa biết cách tìm kiếm sự hỗ trợ hoặc còn e ngại khi chia sẻ với người lớn.
Bà Mai Thị Ngọc Mai – Chủ tịch Hội Bảo vệ quyền trẻ em TP.HCM trao quà cho trẻ em tại một chương trình.
Tuy nhiên, chúng tôi cho rằng không nên chỉ nhìn vấn đề từ những vụ việc đã xảy ra. Quan trọng hơn là phải củng cố hệ thống phòng ngừa, phát hiện sớm, can thiệp và hỗ trợ trẻ em. Khi một trường hợp được phát hiện sớm và hỗ trợ đúng cách, có thể hạn chế những tổn thương tiếp theo đối với trẻ.
Qua hoạt động thực tế, Hội nhận thấy nhu cầu hỗ trợ trẻ em ngày càng đa dạng, trong đó có những vấn đề về tâm lý, sức khỏe tâm thần, môi trường gia đình, khả năng tiếp cận các dịch vụ hỗ trợ và những nguy cơ trên môi trường mạng.
Vì vậy, bảo vệ trẻ em cần chuyển mạnh từ tư duy “xử lý khi có vụ việc” sang chủ động phòng ngừa và phát hiện sớm, đồng thời bảo đảm khi vụ việc phát sinh, trẻ được tiếp cận kịp thời với các dịch vụ y tế, tâm lý, pháp lý và công tác xã hội phù hợp.
09:40
Độc giả Thanh Tùng (Thái Nguyên) gửi câu hỏi tới ông Hà Đình Bốn: Vụ việc xảy ra ở chùa Bầu, xin hỏi ngoài trách nhiệm của người trực tiếp đánh các cháu, cần xem xét trách nhiệm của những cá nhân, tổ chức nào?
Ông Hà Đình Bốn: Tôi cho rằng phải tách thành ít nhất ba tầng trách nhiệm:
Thứ nhất là, người trực tiếp thực hiện hành vi bạo lực. Đây là trách nhiệm rõ nhất và phải được xử lý nghiêm theo kết quả điều tra, giám định thương tích và các chứng cứ khác.
Thứ hai là, trách nhiệm của người trực tiếp quản lý, chăm sóc các cháu tại chùa. Cần xác định cụ thể ai được giao quản lý 5 cháu, ai phân công người chăm sóc, ai kiểm tra việc chăm sóc hằng ngày, ai chịu trách nhiệm khi người được giao chăm sóc trẻ sử dụng bạo lực.
Cháu bé bị đánh bầm tím tại chùa Bầu. (Ảnh chụp từ clip)
Nếu người quản lý biết, hoặc có căn cứ để biết, rằng trẻ thường xuyên bị đánh mà không ngăn chặn, không báo cáo, không can thiệp thì đây không còn là câu chuyện “không may xảy ra một lần”. Khi đó phải xem xét trách nhiệm tương ứng với mức độ biết, nghĩa vụ phải biết và hành vi hoặc sự thiếu trách nhiệm của từng người.
Thứ ba là, trách nhiệm quản lý nhà nước và trách nhiệm của chính quyền địa phương trong bảo vệ trẻ em.
Tôi không nói rằng cứ xảy ra một vụ việc thì đương nhiên cán bộ địa phương phải chịu trách nhiệm. Nhưng phải kiểm tra xem hệ thống bảo vệ trẻ em tại cơ sở đã hoạt động như thế nào: Các cháu được đưa vào chùa bằng con đường nào? Có được lập hồ sơ không? Chính quyền xã/phường có biết các cháu đang sinh sống tại đây không? Có người làm công tác bảo vệ trẻ em theo dõi không? Có đánh giá hoàn cảnh và nguy cơ của từng cháu không?
Theo Nghị định 56/2017/NĐ-CP, khi có thông tin trẻ em bị xâm hại, nơi tiếp nhận thông tin phải ghi nhận, xác minh; nếu trẻ có nguy cơ hoặc đang bị tổn hại nghiêm trọng thì phải áp dụng biện pháp can thiệp khẩn cấp hoặc tạm thời cách ly trẻ khỏi môi trường/người gây tổn hại. Cho nên, trách nhiệm phải được truy đến đúng người, đúng chức năng, đúng thời điểm, chứ không nên kết luận chung chung là “trách nhiệm thuộc về tập thể”.
09:26
Thực trạng bạo lực, xâm hại trẻ em và những nguy cơ đối với trẻ yếu thế
Độc giả Anh Thư (Hà Nội) gửi câu hỏi tới ông Hà Đình Bốn: Thưa ông Hà Đình Bốn, nhìn từ góc độ bảo vệ quyền trẻ em, ông đánh giá như thế nào về việc 5 cháu bé tại chùa Bầu bị đánh gây thương tích, trong đó có cháu đã bật khóc và kêu “em đau lắm rồi”?
Ông Hà Đình Bốn: Tôi cho rằng cần nhìn nhận vụ việc này ở một tầng sâu hơn việc một người đã có hành vi đánh 5 cháu bé. Nếu chỉ nói “đánh trẻ em là hành vi bạo lực và người đánh phải chịu trách nhiệm” thì đúng, nhưng chưa đủ. Vấn đề lớn hơn là chúng ta phải nhìn thấy một đứa trẻ đã ở vào tình trạng hoàn toàn bất lực trước người lớn như thế nào, và vì sao cơ chế bảo vệ cháu đã không hoạt động trước khi sự việc trở nên nghiêm trọng.
Câu nói “em đau lắm rồi” của một cháu bé là chi tiết ám ảnh nhất. Bởi đó không chỉ là lời kêu đau về thể chất mà còn là một tín hiệu cầu cứu: cháu đang bị tổn thương, cháu không chịu đựng được nữa, hãy dừng lại và bảo vệ cháu.
Ông Hà Đình Bốn – Phó Chủ tịch Hội Bảo vệ quyền trẻ em Việt Nam, nguyên Vụ trưởng Vụ Pháp chế (Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội).
Khi một đứa trẻ đã khóc, đã nói mình đau mà hành vi bạo lực vẫn tiếp diễn thì ranh giới của cái gọi là “dạy bảo”, “uốn nắn” hay “răn đe” đã bị vượt qua hoàn toàn. Không có giáo dục nào được thực hiện bằng cách làm cho một đứa trẻ sợ hãi, đau đớn và bất lực.
Trong thực tiễn bảo vệ trẻ em, chúng ta nhiều lần gặp cách biện minh nguy hiểm: người lớn nói rằng họ đánh trẻ vì thương trẻ, vì muốn trẻ nên người, vì trẻ mắc lỗi, vì “ngày trước chúng tôi cũng bị đánh mà vẫn trưởng thành”…. Nhưng thật ra trẻ em không phải là đối tượng để người lớn tùy ý áp dụng các biện pháp giáo dục theo quan niệm cá nhân. Trẻ em là một chủ thể có quyền. Luật Trẻ em đặt nguyên tắc bảo đảm lợi ích tốt nhất của trẻ em trong các quyết định, hoạt động liên quan đến trẻ, đồng thời nghiêm cấm các hành vi xâm hại trẻ em.
Vì vậy, nhìn từ quyền trẻ em, đây phải được xác định trước hết là một vụ việc bạo lực và là sự xâm phạm nghiêm trọng đến quyền được bảo vệ về tính mạng, thân thể, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm và sự phát triển của các cháu. Mức độ trách nhiệm cụ thể phải do cơ quan có thẩm quyền xác định trên cơ sở chứng cứ và kết quả điều tra, nhưng không thể dùng bất kỳ lý do giáo dục hay tôn giáo nào để hợp thức hóa bạo lực đối với trẻ em.
Điều đáng suy nghĩ hơn nữa là 5 cháu cùng bị đánh. Đây không còn là câu chuyện của một đứa trẻ và một người lớn trong một thời điểm nhất định. Việc nhiều trẻ cùng bị bạo lực đặt ra câu hỏi về môi trường chăm sóc: hành vi này xảy ra một lần hay nhiều lần, các cháu có sợ hãi người chăm sóc hay không; trước đó có dấu hiệu cảnh báo nào không; những người có trách nhiệm quản lý cơ sở có biết hoặc có khả năng biết hay không?
Một vụ việc bảo vệ trẻ em không nên chỉ dừng ở câu hỏi “ai đã đánh cháu?”, mà phải hỏi tiếp “vì sao người đó có thể đánh cháu?”, “vì sao cháu không được bảo vệ?”, “trước đó có ai nhìn thấy dấu hiệu nguy hiểm không?” và “cơ chế nào đáng lẽ phải ngăn hành vi đó nhưng đã không hoạt động?”.
Bởi nếu chỉ xử lý người trực tiếp đánh trẻ mà không nhìn lại môi trường đã để hành vi đó xảy ra thì chúng ta mới xử lý được hậu quả, chứ chưa xử lý được nguy cơ.
Tôi cũng đặc biệt lưu ý đến hoàn cảnh của 5 cháu. Những trẻ em sống xa cha mẹ, sống tại cơ sở tôn giáo, cơ sở từ thiện hoặc một hình thức chăm sóc thay thế thường có mức độ phụ thuộc rất cao vào người lớn. Các cháu phụ thuộc từ chỗ ăn, chỗ ở, học hành, chăm sóc sức khỏe cho đến việc được tiếp xúc với gia đình. Vì thế, sự chênh lệch quyền lực giữa người chăm sóc và trẻ em trong những trường hợp này rất lớn.
Một người lớn có thể nghĩ rằng mình chỉ “phạt” một đứa trẻ, nhưng đối với đứa trẻ, đó có thể là trải nghiệm về sự sợ hãi, nhục nhã và mất an toàn ngay tại chính nơi mà cháu đáng lẽ phải được bảo vệ.
Chúng ta cũng phải nhìn thấy một dạng tổn thương khác, đó là tổn thương tâm lý. Vết bầm có thể nhìn thấy và có thể giám định, nhưng nỗi sợ hãi của một đứa trẻ đối với người lớn, cảm giác không còn tin rằng người lớn sẽ bảo vệ mình, phải im lặng để tránh bị phạt, hoặc suy nghĩ rằng “mình bị đánh là vì mình đáng bị như vậy” – những tổn thương ấy không phải lúc nào cũng nhìn thấy ngay trên cơ thể.
Đối với trẻ em, đặc biệt là trẻ còn nhỏ, bạo lực lặp lại có thể ảnh hưởng đến cảm giác an toàn, lòng tự trọng, khả năng hình thành quan hệ tin cậy và sự phát triển tâm lý lâu dài. Vì thế, không nên đánh giá hậu quả của vụ việc chỉ bằng tỷ lệ thương tích về thể chất.
Một điểm nữa tôi muốn nhấn mạnh là: chùa là cơ sở tôn giáo nhưng trẻ em ở đó vẫn trước hết là trẻ em. Tất cả các cơ sở tôn giáo đang nuôi dưỡng, chăm sóc trẻ em cần thực hiện đúng quy định của pháp luật; cơ quan chức năng, chính quyền địa phương cũng phải có biện pháp kiểm tra, giám sát chặt chẽ hơn.
Một đứa trẻ ở trong gia đình phải được bảo vệ. Một đứa trẻ ở trường học phải được bảo vệ. Một đứa trẻ ở cơ sở bảo trợ xã hội phải được bảo vệ. Và một đứa trẻ ở chùa, nhà thờ, cơ sở tôn giáo hay bất kỳ cơ sở thiện nguyện nào cũng phải được bảo vệ với cùng một tiêu chuẩn, thậm chí chặt chẽ hơn nếu đó là trẻ có hoàn cảnh đặc biệt và phụ thuộc hoàn toàn vào người chăm sóc.
Tôi cho rằng điều cần rút ra từ vụ việc này không phải là sự nghi ngờ hay quy chụp đối với các cơ sở tôn giáo. Rất nhiều cơ sở tôn giáo, tổ chức thiện nguyện đang làm những việc đáng trân trọng cho trẻ em. Nhưng làm việc tốt không có nghĩa là được đứng ngoài các tiêu chuẩn bảo vệ trẻ em. Lòng tốt không thể thay thế cho quy trình bảo vệ trẻ em. Tình thương không thể thay thế cho kỹ năng chăm sóc. Niềm tin không thể thay thế cho cơ chế giám sát.
Từ góc độ của một người làm công tác bảo vệ trẻ em, điều tôi trăn trở nhất sau vụ việc này là: chúng ta có thể đã biết về những vết thương của các cháu hôm nay, nhưng liệu chúng ta có biết trước đó các cháu đã từng sợ hãi bao nhiêu lần hay chưa?
Nếu câu trả lời là chưa biết, thì đây chính là khoảng trống mà hệ thống bảo vệ trẻ em phải nghiêm túc nhìn lại. Một hệ thống bảo vệ trẻ em tốt không phải là hệ thống chỉ có khả năng xuất hiện sau khi trẻ đã bị đánh, đã bị thương, đã khóc và đã có người quay được hình ảnh. Một hệ thống tốt phải có khả năng nhận ra nguy cơ trước khi cú đánh đầu tiên xảy ra.
Và tôi muốn nói một điều rất rõ: đứa trẻ không có trách nhiệm phải kêu “em đau lắm rồi” thì người lớn mới có trách nhiệm bảo vệ.
Trách nhiệm của người lớn phải bắt đầu từ trước đó – từ khi tiếp nhận trẻ, từ khi giao trẻ cho một người chăm sóc, từ việc kiểm tra môi trường sống, lắng nghe những biểu hiện bất thường và tạo ra một nơi mà trẻ có thể nói “cháu sợ”, “cháu không muốn”, “cháu bị đánh” mà không phải sợ rằng sau khi nói ra mình sẽ bị trừng phạt. Đó mới là tinh thần thực chất của bảo vệ quyền trẻ em.
Điều đáng lo hơn là cần làm rõ trước khi sự việc bị phát hiện, các dấu hiệu nguy cơ đối với các cháu đã được nhận diện và xử lý như thế nào. Nếu những dấu hiệu ấy đã tồn tại nhưng không được phát hiện, đó chính là khoảng trống mà hệ thống bảo vệ trẻ em cần nghiêm túc nhìn lại.