10:10 12/08/2026

Sức khỏe học đường: Từ chính sách đến những bài toán ở cơ sở

Từ những vấn đề thực tiễn được nhận diện trong công tác chăm sóc sức khỏe học đường, Quyết định số 973/QĐ-TTg đã đặt ra các mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp cho giai đoạn 2026-2035. Thực tiễn tại các địa phương cho thấy, để cụ thể hóa những định hướng này, cần tiếp tục quan tâm đến nguồn lực, cơ chế phối hợp và điều kiện triển khai phù hợp với từng địa bàn.

Từ những vấn đề thực tiễn đến chính sách mới

Chăm sóc sức khỏe học đường những năm qua đã có nhiều chuyển biến, song thực tế tại các địa phương cho thấy vẫn còn những vấn đề cần tiếp tục được giải quyết, từ nhân lực y tế trường học, cơ sở vật chất, dinh dưỡng đến khả năng tiếp cận dịch vụ của học sinh ở những địa bàn khó khăn. Đây cũng là những vấn đề được nhìn nhận trong quá trình triển khai công tác sức khỏe học đường giai đoạn 2019-2025, qua đó đặt ra yêu cầu tiếp tục hoàn thiện chính sách trong giai đoạn mới.

Báo cáo đề dẫn tại Hội thảo “Đồng hành - Kiến tạo tương lai: Vì một Việt Nam khỏe mạnh", TS. Hoàng Đức Minh - Vụ trưởng Vụ Học sinh, sinh viên, Bộ GD&ĐT cho biết, trong giai đoạn 2019-2025, dù các điều kiện về nhân lực, cơ sở vật chất, thiết bị triển khai hoạt động chăm sóc sức khỏe người học đã được cải thiện, song tại nhiều nơi, đặc biệt ở khu vực miền núi, vùng sâu, vùng xa, các điều kiện này vẫn còn hạn chế.

1786430757275_2517490851821121322_g6403053114290710041_76977e55725fa51df87939b03f65b8c0
TS. Hoàng Đức Minh - Vụ trưởng Vụ Học sinh, sinh viên tại Hội thảo “Đồng hành - Kiến tạo tương lai: Vì một Việt Nam khỏe mạnh".

“Hệ thống chính sách về chăm sóc sức khỏe người học, dinh dưỡng học đường chưa hoàn thiện đầy đủ nên việc tổ chức, quản lý sức khỏe người học, chăm sóc dinh dưỡng học đường, giám sát bữa ăn học đường vẫn còn nhiều hạn chế. Công tác chỉ đạo, điều hành, phối hợp liên ngành ở một số nơi chưa đồng bộ, quyết liệt. Công tác phối hợp giữa gia đình và nhà trường trong thực hiện chế độ ăn khoa học, hợp lý, đảm bảo dinh dưỡng cho người học ở một số cơ sở giáo dục chưa thật sự hiệu quả”, ông Minh nhấn mạnh. 

Theo báo cáo, đội ngũ nhân viên y tế trường học đối với khối giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông chưa đáp ứng yêu cầu, đặc biệt tại vùng sâu, vùng khó khăn; tỷ lệ nhân viên y tế trường học chuyên trách chỉ chiếm 50,7%, trong đó chỉ khoảng 30% có chuyên môn y tế. Đồng thời, việc bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ cho nhân viên y tế trường học theo quy định của Bộ Y tế mới chỉ đạt 38,5%. Ngoài ra, tỷ lệ cơ sở giáo dục có phòng y tế riêng, đủ thiết bị sơ cấp cứu và thuốc thiết yếu mới chỉ đạt 80%.

Những con số này cho thấy bài toán đặt ra không chỉ là xác định mục tiêu chăm sóc sức khỏe học sinh, mà còn là bảo đảm những điều kiện để các mục tiêu đó có thể được thực hiện tại nhà trường.

Từ những vấn đề đã được nhận diện trong thực tiễn, yêu cầu hoàn thiện chính sách tiếp tục được đặt ra trong giai đoạn mới. Ngày 1/6/2026, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 973/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình Sức khỏe học đường giai đoạn 2026-2035, trên cơ sở đề nghị của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT.

Chương trình hướng tới nâng cao hiệu quả công tác y tế trường học, tuyên truyền, giáo dục, bảo vệ, chăm sóc và quản lý sức khỏe người học, hướng đến phát triển toàn diện cả về thể chất và tinh thần. Sáu nhóm nhiệm vụ, giải pháp của chương trình tập trung vào hoàn thiện chính sách; phát triển nhân lực; đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị; tăng cường truyền thông, giáo dục chăm sóc sức khỏe và xây dựng, nhân rộng các mô hình bữa ăn học đường đảm bảo dinh dưỡng hợp lý kết hợp hoạt động thể lực; ứng dụng công nghệ, chuyển đổi số; phối hợp liên ngành và huy động nguồn lực xã hội.

Sau khi Chương trình được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, ngày 9/7/2026, Bộ GD&ĐT tiếp tục ban hành Quyết định số 1991/QĐ-BGDĐT về Kế hoạch triển khai Chương trình Sức khỏe học đường giai đoạn 2026-2035 của ngành Giáo dục. Đây là bước cụ thể hóa các mục tiêu, nhiệm vụ của Chương trình trong hệ thống giáo dục, đồng thời đặt ra yêu cầu các địa phương tiếp tục xây dựng kế hoạch phù hợp với điều kiện thực tế.

Những bài toán từ cơ sở

Quyết định 973 đặt ra những mục tiêu và nhiệm vụ chung ở cấp quốc gia. Tuy nhiên, khi đi vào thực tế, mỗi địa phương lại có những điều kiện, quy mô và nhu cầu khác nhau. Thực tiễn tại Thanh Hóa cho thấy rõ những yêu cầu về nguồn lực mà một địa phương cần tiếp tục củng cố để đáp ứng các mục tiêu này.

Với hơn 2.000 cơ sở giáo dục, phục vụ khoảng 1 triệu học sinh, Thanh Hóa có quy mô giáo dục lớn và địa bàn rộng. Theo ông Nguyễn Văn Dĩnh, Phó Giám đốc Sở GD&ĐT tỉnh Thanh Hóa, địa phương hiện cần tiếp tục giải quyết ba vấn đề trong công tác y tế trường học, gồm nhân lực y tế chuyên trách, cơ sở vật chất và thực hiện mục tiêu 100% học sinh được khám sàng lọc theo quy định.

Bên cạnh đó, đặc thù địa hình cũng đặt ra những yêu cầu riêng trong tổ chức các hoạt động chăm sóc sức khỏe học đường. Thanh Hóa có khoảng 200km đường biên giới giáp Lào, với gần 40 cơ sở giáo dục tại các khu vực như Mường Lát, Quan Sơn, Quan Hóa... Đây là những địa bàn có điều kiện tiếp cận các dịch vụ và nguồn lực chăm sóc sức khỏe học đường khó khăn hơn.

“Trên dọc đường biên giới giáp với các nước bạn, chúng tôi có tới 40 cơ sở giáo dục mầm non, phổ thông. Vì thế, việc tiếp cận chương trình sức khỏe học đường là hết sức quan trọng. Chúng tôi ưu tiên nguồn ngân sách để tập trung mua sắm các cơ sở vật chất, trang thiết bị tối thiểu y tế trường học để đáp ứng nhu cầu và tiếp cận giữa các vùng đặc biệt khó khăn”, ông Dĩnh nhấn mạnh. 

1786431015966_2517490851821121322_g6403053114290710041_4d5dfd9eac841d2b0f1a224f65616dc7
Ông Nguyễn Văn Dĩnh - Phó Giám đốc Sở GD&ĐT Thanh Hóa chia sẻ tại tọa đàm “Truyền thông sức khỏe học đường và huy động nguồn lực xã hội: Từ nhận thức đến hành động”.

Từ câu chuyện của Thanh Hóa có thể thấy, cùng một mục tiêu chung về sức khỏe học đường nhưng điều kiện để thực hiện tại mỗi địa bàn không giống nhau. Đặc biệt ở những khu vực miền núi, biên giới, bài toán nguồn lực và khả năng tiếp cận dịch vụ đòi hỏi địa phương phải có cách tổ chức và mức độ hỗ trợ phù hợp. 

Nếu Thanh Hóa cho thấy những yêu cầu về nguồn lực và điều kiện cơ sở để thực hiện mục tiêu, thực tiễn tại Bắc Ninh lại cho thấy một khía cạnh khác: cách địa phương tổ chức phối hợp các nguồn lực để đưa công tác sức khỏe học đường vào hoạt động cụ thể.

Một trong những địa phương có quy mô giáo dục lớn, Bắc Ninh triển khai công tác sức khỏe học đường theo cơ chế phối hợp giữa ngành Giáo dục, Y tế, BHXH, chính quyền địa phương, gia đình, doanh nghiệp và các tổ chức xã hội. Tỉnh đã triển khai nhiều hoạt động từ khám, quản lý sức khỏe học sinh, đào tạo nhân viên y tế trường học đến tư vấn sức khỏe tâm thần và dinh dưỡng học đường. 

Đáng chú ý, 100% trường phổ thông đã thành lập tổ tư vấn tâm lý và bố trí phòng hoặc góc tư vấn. Cùng với đó, Truyền hình Bắc Ninh xây dựng chuyên mục “Góc tư vấn học đường”, phát sóng 18 số, tập trung vào chăm sóc sức khỏe tinh thần, kỹ năng phòng ngừa, nhận diện và hỗ trợ học sinh gặp khó khăn về tâm lý. Bên cạnh đó, việc huy động sự tham gia của doanh nghiệp và gia đình trong một số chương trình dành cho học sinh cũng được tỉnh chú trọng. 

Phát biểu tham luận tại Hội thảo “Đồng hành - Kiến tạo tương lai: Vì một Việt Nam khỏe mạnh“, ông Nguyễn Vinh Thanh, Phó Giám đốc Sở GD&ĐT tỉnh Bắc Ninh nhấn mạnh: “Nhận thức rõ chăm sóc, bảo vệ và nâng cao sức khỏe học sinh là nhiệm vụ liên ngành, liên lĩnh vực, đòi hỏi sự tham gia của nhiều chủ thể, tỉnh Bắc Ninh luôn xác định xây dựng cơ chế phối hợp đồng bộ và huy động hiệu quả các nguồn lực xã hội là giải pháp then chốt để triển khai Chương trình Sức khỏe học đường. 

Trên cơ sở đó, tỉnh Bắc Ninh đã ban hành nhiều kế hoạch, quy chế phối hợp và cơ chế hỗ trợ nhằm cụ thể hóa các chủ trương của Trung ương; đồng thời xác định xây dựng cơ chế phối hợp đa ngành giữa cơ quan quản lý nhà nước, ngành Giáo dục, ngành Y tế, Bảo hiểm xã hội, chính quyền địa phương, các tổ chức chính trị - xã hội, doanh nghiệp, cơ quan báo chí và cơ sở đào tạo và huy động hiệu quả các nguồn lực xã hội là giải pháp xuyên suốt để triển khai Chương trình Sức khỏe học đường giai đoạn 2026-2035”. 

1786430878376_2517490851821121322_g6403053114290710041_60c73b8ef4dd3de38124fe38ca993744
Ông Nguyễn Vinh Thanh - Phó Giám đốc Sở GD&ĐT tỉnh Bắc Ninh phát biểu tại Hội thảo “Đồng hành - Kiến tạo tương lai: Vì một Việt Nam khỏe mạnh".

Một trong những ví dụ tiêu biểu đó là chương trình Sữa học đường. Theo đó, Chương trình được triển khai theo mô hình phối hợp giữa Nhà nước - doanh nghiệp - gia đình, trong đó ngân sách tỉnh hỗ trợ 50% giá trị hộp sữa, phụ huynh đóng góp 25% và doanh nghiệp hỗ trợ 25%; đối với trẻ em thuộc hộ nghèo, cận nghèo và các đối tượng chính sách theo quy định, phần kinh phí do phụ huynh đóng góp được ngân sách nhà nước hỗ trợ, bảo đảm mọi trẻ em thuộc đối tượng thụ hưởng đều có cơ hội tham gia chương trình.

Tuy đã có những cách làm cụ thể, Bắc Ninh cũng xác định vẫn còn những vấn đề cần tiếp tục giải quyết, như hoạt động truyền thông sức khỏe chưa hình thành được mạng lưới thường xuyên, đa nền tảng; kinh phí bữa ăn bán trú chủ yếu do cha mẹ học sinh chi trả, đặt ra yêu cầu tiếp tục quan tâm đến khả năng tiếp cận của những gia đình có điều kiện kinh tế khó khăn.

Những kinh nghiệm và vấn đề đặt ra từ các địa phương cho thấy, để các mục tiêu của Quyết định 973 được hiện thực hóa, việc triển khai không chỉ phụ thuộc vào việc ban hành chính sách, mà còn cần những điều kiện cụ thể về nguồn lực, cơ chế phối hợp và cách thức tổ chức phù hợp với từng địa bàn.

Khi chính sách đi vào từng bữa ăn, từng trường học

Từ thực tế triển khai tại địa phương, vấn đề đặt ra không chỉ nằm ở y tế trường học mà còn ở những lĩnh vực cụ thể như dinh dưỡng học đường. Đây là nơi các yêu cầu về cơ sở vật chất, nhân lực, kinh phí và chuyên môn cùng lúc được đặt ra.

Ở lĩnh vực dinh dưỡng học đường, PGS.TS.BS Bùi Thị Nhung - Phó Chủ tịch Hội Tiết chế Dinh dưỡng, nguyên Chủ nhiệm Khoa Dinh dưỡng học đường và ngành nghề - Viện Dinh dưỡng quốc gia cho rằng, kinh nghiệm từ Mô hình điểm Bữa ăn học đường đảm bảo dinh dưỡng hợp lý kết hợp tăng cường hoạt động thể lực cho thấy cơ chế, chính sách là yếu tố quyết định tính bền vững. Khi mô hình được triển khai thí điểm, nhà trường được hỗ trợ tương đối đầy đủ về cơ sở vật chất, nhân lực, kiến thức chuyên môn và kinh phí xây dựng thực đơn. Tuy nhiên, khi triển khai thực tế tại các địa phương, nhiều trường vẫn gặp khó khăn về cơ sở vật chất, nhân lực và kinh phí.

1786430909213_2517490851821121322_g6403053114290710041_3bbc37ce5d02d7fcc745212c1d7f8efd
PGS.TS.BS Bùi Thị Nhung - Phó Chủ tịch Hội Tiết chế Dinh dưỡng, nguyên Chủ nhiệm Khoa Dinh dưỡng học đường và ngành nghề - Viện Dinh dưỡng quốc gia chia sẻ tại tọa đàm “Truyền thông sức khỏe học đường và huy động nguồn lực xã hội: Từ nhận thức đến hành động”.

Thực tế triển khai cho thấy, ở một số địa bàn, mức thu bữa ăn chỉ khoảng 12.000-15.000 đồng/bữa; nhân lực bếp ăn chủ yếu là lao động hợp đồng ngắn hạn với mức lương thấp, trong khi cơ sở vật chất và trang thiết bị tại nhiều trường còn thiếu. Theo bà Nhung, nếu không có những quy định đủ cụ thể về các điều kiện này, việc duy trì và nhân rộng mô hình sẽ khó bảo đảm tính bền vững.

“Chúng ta cần phải có những chính sách mà quy định thực hiện một cách bắt buộc như là các thông tư, các quy định hay là luật hóa như Nhật Bản. Để chúng ta có những quy định cứng về mặt chính sách, về mặt con người, nhân lực cũng như là giá thành và các nội dung chuyên môn”, bà Nhung nói.

Từ kinh nghiệm của Nhật Bản, bà Nhung cho rằng, Việt Nam cần nghiên cứu xây dựng luật về bữa ăn học đường, tạo cơ sở pháp lý thống nhất để chuẩn hóa các điều kiện tổ chức và bảo đảm tính bền vững khi triển khai.

Không cào bằng trong triển khai

Nhìn từ góc độ quyền trẻ em, bà Lê Anh Lan - chuyên gia giáo dục, Tổ chức UNICEF tại Việt Nam cho rằng, Chương trình Sức khỏe học đường cần được tiếp cận theo hướng toàn diện, thay vì chỉ tập trung vào khám, chữa bệnh cho học sinh.

Theo bà, một trong những nguyên tắc cần được lưu ý khi triển khai chương trình là phổ cập dịch vụ nhưng có hỗ trợ tăng cường theo nhu cầu. Bởi điều kiện giữa các địa phương và các nhóm trẻ không giống nhau nên việc triển khai không thể áp dụng đồng đều.

“Cách chúng ta triển khai không phải là cào bằng. Nó sẽ tùy thuộc vào nhu cầu của các địa phương và việc hỗ trợ hay việc đầu tư thì sẽ phải phụ thuộc theo nhu cầu chứ không phải là hỗ trợ hoặc triển khai giống như nhau ở tất cả các nơi”, bà Lan phân tích.

1786430958790_2517490851821121322_g6403053114290710041_0af9fbdeba59dced20e8b3c832832e04
Bà Lê Anh Lan - chuyên gia giáo dục, Tổ chức UNICEF tại Việt Nam chia sẻ tại “Truyền thông sức khỏe học đường và huy động nguồn lực xã hội: Từ nhận thức đến hành động”.

Từ đó, chuyên gia UNICEF cũng lưu ý đến việc bảo đảm sự tham gia thực chất của trẻ em trong những vấn đề liên quan trực tiếp đến các em, từ dinh dưỡng, nước sạch, vệ sinh đến sức khỏe tinh thần; đồng thời cần quan tâm đến mức độ hài lòng của học sinh khi đánh giá các dịch vụ sức khỏe học đường.

Những góc nhìn trên cho thấy, để chính sách thực sự đi vào đời sống học đường, việc xác định mục tiêu chung mới chỉ là bước đầu. Điều quan trọng tiếp theo là phải bảo đảm đủ điều kiện thực hiện, phân bổ nguồn lực theo nhu cầu và có cơ chế để các bên cùng tham gia.

Cần một mạng lưới cùng chịu trách nhiệm

Bên cạnh cơ chế chính sách và nguồn lực tại nhà trường, việc huy động sự tham gia của xã hội cũng là một yếu tố quan trọng đối với tính bền vững của chương trình.

Từ góc độ đơn vị đồng hành triển khai Mô hình điểm Bữa ăn học đường bà Nguyễn Quỳnh Vân - Phó Viện trưởng Viện Dinh dưỡng TH cho biết, qua quá trình triển khai tại 10 tỉnh, thành phố, sự chênh lệch về nguồn lực giữa các địa phương thể hiện khá rõ. Trong khi mức 35.000-40.000 đồng cho một bữa ăn có thể phù hợp ở thành phố lớn, tại vùng sâu, vùng xa, việc duy trì một bữa ăn 15.000 đồng đã là sự cố gắng lớn của nhà trường và gia đình.

ba-nguyen-quynh-van-2
Bà Nguyễn Quỳnh Vân - Phó Viện trưởng Viện Dinh dưỡng TH chia sẻ tại “Truyền thông sức khỏe học đường và huy động nguồn lực xã hội: Từ nhận thức đến hành động”.

Bà Vân cũng lưu ý đến yêu cầu tăng cường giám sát đối với các đơn vị cung cấp suất ăn cho trường học, đồng thời cho rằng nguồn lực xã hội cần được huy động trong một cơ chế phối hợp rõ ràng giữa nhà trường, gia đình, cơ quan quản lý, truyền thông và doanh nghiệp.

“Để các bên phối hợp hoàn thành tốt và thực sự tạo thành một mạng lưới, chúng tôi cho rằng tất cả phải cùng nhìn về một mục tiêu, cùng cam kết trách nhiệm để mang lại hiệu quả thực tế cho chương trình”, bà Vân nói.

Theo bà Vân, cần xác định rõ mục tiêu, tiêu chuẩn, vai trò và trách nhiệm của từng bên, đồng thời có cơ chế theo dõi, đánh giá và điều chỉnh để sự đồng hành của doanh nghiệp và các nguồn lực xã hội không chỉ dừng lại trong một giai đoạn, mà có thể tiếp tục được huy động phù hợp với những vấn đề phát sinh từ thực tiễn.

Quyết định 973/QĐ-TTg đã xác định những mục tiêu và nhóm nhiệm vụ quan trọng cho công tác sức khỏe học đường giai đoạn 2026-2035. Thực tiễn từ Thanh Hóa, Bắc Ninh cũng như những phân tích của các chuyên gia cho thấy, để những mục tiêu này trở thành kết quả cụ thể, cần tiếp tục giải quyết bài toán về nhân lực, cơ sở vật chất, dinh dưỡng, nguồn lực và cơ chế phối hợp.

Đây không phải là câu chuyện đánh giá hiệu quả của một chương trình vừa được ban hành, mà là những điều kiện thực tiễn cần được nhìn nhận ngay từ đầu để quá trình triển khai Chương trình Sức khỏe học đường được thiết kế và thực hiện sát hơn với nhu cầu của từng địa phương, từng nhà trường và từng nhóm học sinh./.