06:00 11/08/2026

PGS.TS.BS Nguyễn Thị Lâm: Muốn nâng cao thể lực học sinh, dinh dưỡng và vận động phải song hành

sapo
tít phụ 1 (5)

Những năm gần đây, cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội, tình trạng dinh dưỡng của trẻ em Việt Nam đã có nhiều cải thiện. Tuy nhiên, bức tranh sức khỏe học đường hiện nay lại xuất hiện hai thái cực cùng tồn tại. Một mặt, suy dinh dưỡng và thiếu vi chất vẫn là vấn đề đáng lo ngại ở nhiều địa phương, đặc biệt tại vùng sâu, vùng xa. Mặt khác, thừa cân, béo phì và lối sống ít vận động đang gia tăng nhanh ở khu vực thành thị. Đây được xem là “gánh nặng kép” mà Việt Nam phải giải quyết nếu muốn nâng cao chất lượng dân số trong tương lai.

PGS.TS.BS Nguyễn Thị Lâm, nguyên Phó Viện trưởng Viện Dinh dưỡng Quốc gia cho biết, kết quả Điều tra Dinh dưỡng toàn quốc năm 2023 cho thấy tỷ lệ suy dinh dưỡng thể thấp còi ở trẻ dưới 5 tuổi là 18,2%. Theo phân loại của Tổ chức Y tế Thế giới, mức này vẫn thuộc nhóm có ý nghĩa sức khỏe cộng đồng.

box 1 (14)

Điều đáng lưu ý là khoảng cách giữa các vùng miền còn rất lớn. Tỷ lệ trẻ thấp còi ở khu vực Trung du và miền núi phía Bắc lên tới 24,8%, còn Tây Nguyên là 25,9%. Điều này phản ánh sự chênh lệch về điều kiện kinh tế, mức sống, khả năng tiếp cận thực phẩm giàu dinh dưỡng và dịch vụ chăm sóc sức khỏe.

Trong khi đó, xu hướng thừa cân, béo phì lại gia tăng mạnh ở trẻ em và thanh thiếu niên. Tỷ lệ thừa cân, béo phì ở nhóm từ 5-19 tuổi đã tăng từ 8,5% năm 2010 lên 19% vào năm 2020, tức tăng hơn gấp đôi chỉ sau mười năm. Ở khu vực thành thị, tỷ lệ này cao gần gấp hai lần so với nông thôn.

Không chỉ vậy, thiếu vi chất dinh dưỡng vẫn khá phổ biến. Nhiều trẻ thiếu sắt dẫn đến thiếu máu, thiếu kẽm làm giảm sức đề kháng và chậm tăng trưởng, trong khi khẩu phần canxi chưa đáp ứng nhu cầu khuyến nghị khiến quá trình phát triển hệ xương chưa đạt tối ưu.

hoc-sinh-4

“Những con số về thừa cân, béo phì và suy dinh dưỡng cho thấy Việt Nam đang đồng thời phải giải quyết hai vấn đề trái ngược nhưng đều ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe lâu dài của trẻ em. Một bộ phận trẻ chưa được cung cấp đủ dinh dưỡng để phát triển bình thường, trong khi một bộ phận khác lại dư thừa năng lượng nhưng thiếu vận động, làm gia tăng nguy cơ mắc các bệnh không lây nhiễm ngay từ lứa tuổi học đường”, PGS.TS.BS Nguyễn Thị Lâm nhận định.

Thực trạng này cũng phản ánh những thay đổi trong lối sống của nhiều gia đình hiện nay. Không ít trẻ dành nhiều thời gian cho điện thoại, máy tính, học thêm, ít tham gia các hoạt động ngoài trời. Trong khi đó, đồ ăn nhanh, nước ngọt có đường và thực phẩm chế biến sẵn ngày càng xuất hiện nhiều trong bữa ăn hằng ngày.

Theo chuyên gia, nếu không có những giải pháp đồng bộ từ nhà trường, gia đình và các cơ quan quản lý, tình trạng này sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến tầm vóc, thể lực cũng như chất lượng nguồn nhân lực trong tương lai.

tít phụ 2 (6)

Không ít phụ huynh vẫn có xu hướng coi dinh dưỡng và vận động là hai vấn đề tách biệt. Tuy nhiên, theo chuyên gia, đây là hai yếu tố có mối quan hệ hữu cơ và chỉ phát huy tối đa hiệu quả khi được triển khai đồng thời.

Theo PGS.TS.BS Nguyễn Thị Lâm, phát triển thể lực không chỉ là nhiệm vụ của giáo dục thể chất, cũng không chỉ phụ thuộc vào bữa ăn của học sinh. Hai yếu tố này phải được triển khai đồng thời, bổ trợ cho nhau mới có thể phát huy hiệu quả.

Các nghiên cứu về tăng trưởng đều cho thấy phần lớn tiềm năng chiều cao của con người được hình thành trước tuổi dậy thì. Khoảng 80-90% chiều cao trưởng thành được quyết định trước 12 tuổi, trong đó 1.000 ngày đầu đời và những năm tiểu học được coi là “cửa sổ vàng” để can thiệp.

box 2 (13)

Ở giai đoạn này, dinh dưỡng hợp lý giúp cung cấp năng lượng cùng các dưỡng chất thiết yếu như protein, canxi, phospho, vitamin D và các vi chất cần thiết để hình thành hệ xương, phát triển cơ bắp, hoàn thiện hệ thần kinh và tăng cường miễn dịch.

Song song với đó, hoạt động thể chất giúp thúc đẩy quá trình tạo xương, tăng mật độ khoáng xương, phát triển hệ cơ, cải thiện chức năng tim mạch, hô hấp và nâng cao sức bền.

“Nếu chỉ cải thiện khẩu phần ăn nhưng trẻ ít vận động, năng lượng dư thừa sẽ tích lũy thành mỡ, làm tăng nguy cơ thừa cân, béo phì và các rối loạn chuyển hóa. Ngược lại, nếu trẻ vận động nhiều nhưng không được cung cấp đầy đủ năng lượng và vi chất thì cơ thể cũng không đủ điều kiện để phát triển tối đa về chiều cao và thể lực”, nguyên Phó Viện trưởng Viện Dinh dưỡng Quốc gia cho biết.

Theo bà, đây cũng là lý do giáo dục dinh dưỡng cần được lồng ghép vào các hoạt động giáo dục thể chất trong nhà trường. Khi hiểu được mối liên hệ giữa chế độ ăn và khả năng vận động, học sinh sẽ chủ động lựa chọn thực phẩm lành mạnh, hạn chế đồ uống có đường, thức ăn nhanh và hình thành lối sống tích cực ngay từ nhỏ.

Bên cạnh việc đổi mới nội dung giáo dục, chuyên gia cho rằng cần xây dựng môi trường học đường hỗ trợ học sinh phát triển toàn diện. Bữa ăn bán trú phải được xây dựng theo nhu cầu dinh dưỡng của từng lứa tuổi, cân đối các nhóm thực phẩm và bảo đảm an toàn thực phẩm. Hoạt động thể chất cũng cần đa dạng hơn, không chỉ giới hạn trong các tiết học thể dục mà còn thông qua các câu lạc bộ thể thao, hoạt động ngoại khóa và không gian vận động trong trường học.

hoc-sinh-1

Đặc biệt, gia đình đóng vai trò quyết định trong việc duy trì những thói quen tốt. Nhà trường chỉ có thể tác động một phần thời gian trong ngày, còn chế độ ăn uống, thời gian ngủ, việc sử dụng thiết bị điện tử hay thói quen vận động hằng ngày của trẻ lại phụ thuộc rất lớn vào cha mẹ.

Cũng theo PGS.TS.BS Nguyễn Thị Lâm, nếu phụ huynh vẫn thường xuyên cho con sử dụng đồ uống có đường, thức ăn nhanh, ít vận động hoặc thức khuya thì những nỗ lực của nhà trường sẽ khó đạt hiệu quả như mong muốn.

Do đó, để cải thiện tầm vóc và thể lực của thế hệ trẻ, cần một chiến lược liên ngành với sự tham gia của ngành y tế, giáo dục, chính quyền địa phương, nhà trường và gia đình. Mục tiêu không chỉ là giúp trẻ cao hơn hay khỏe hơn, mà còn hình thành những hành vi có lợi cho sức khỏe, giảm nguy cơ mắc các bệnh không lây nhiễm trong tương lai.

“Giáo dục thể chất và dinh dưỡng học đường có mối quan hệ hữu cơ, bổ trợ lẫn nhau. Khi hai lĩnh vực này được triển khai đồng bộ, trẻ em không chỉ phát triển tốt về chiều cao, sức mạnh cơ bắp và sức bền mà còn hình thành lối sống lành mạnh, tạo nền tảng cho sức khỏe suốt đời”, PGS.TS.BS Nguyễn Thị Lâm nhấn mạnh.

Trong bối cảnh Việt Nam đang hướng tới mục tiêu nâng cao chất lượng dân số và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, đầu tư cho giáo dục thể chất gắn với dinh dưỡng học đường chính là đầu tư cho tương lai. Mỗi bữa ăn đủ chất, mỗi giờ vận động hiệu quả và mỗi thay đổi tích cực trong nhận thức của gia đình sẽ góp phần tạo nên một thế hệ trẻ khỏe mạnh hơn, năng động hơn và có nền tảng thể lực vững chắc để đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong những thập niên tới.

tít phụ 3 (5)

Nâng cao tầm vóc, thể lực người Việt Nam là mục tiêu được đặt ra trong nhiều chiến lược quốc gia về dinh dưỡng, chăm sóc sức khỏe và phát triển nguồn nhân lực. Trong bối cảnh trẻ em Việt Nam đang phải đối mặt đồng thời với suy dinh dưỡng, thiếu vi chất và gia tăng thừa cân, béo phì, vai trò của trường học ngày càng trở nên quan trọng.

Theo PGS.TS.BS Nguyễn Thị Lâm, trường học là nơi trẻ dành phần lớn thời gian trong ngày. Vì vậy, nếu môi trường học đường vừa bảo đảm bữa ăn khoa học, vừa tạo điều kiện cho trẻ vận động đầy đủ thì sẽ góp phần hình thành những hành vi có lợi cho sức khỏe suốt cuộc đời.

“Tuy nhiên, thực tiễn triển khai hiện nay vẫn còn nhiều điểm nghẽn cần được tháo gỡ”, bà nhận định.

Theo bà, khó khăn đầu tiên là Việt Nam vẫn chưa có một khung pháp lý thống nhất và mang tính chuẩn hóa riêng về dinh dưỡng học đường. Dù nhiều văn bản hướng dẫn đã được ban hành, nhưng tiêu chuẩn bữa ăn trong trường học vẫn chưa được áp dụng đồng bộ trên phạm vi cả nước.

Điều này dẫn đến việc xây dựng thực đơn, khẩu phần ăn, cân đối năng lượng và vi chất dinh dưỡng ở mỗi địa phương, mỗi trường học có sự khác biệt đáng kể. Chất lượng bữa ăn vì thế còn phụ thuộc nhiều vào điều kiện kinh tế, khả năng tổ chức và đơn vị cung cấp suất ăn.

hoc-sinh-van-dong-1

Không chỉ khác biệt về chất lượng bữa ăn, công tác theo dõi tình trạng dinh dưỡng của học sinh cũng chưa được thực hiện thường xuyên ở nhiều nơi. Việc phát hiện sớm trẻ suy dinh dưỡng, thừa cân hoặc thiếu vi chất còn hạn chế, khiến nhiều trường hợp chỉ được can thiệp khi tình trạng đã kéo dài. 

Chỉ ra một trong những "điểm nghẽn" của dinh dưỡng học đường hiện nay, PGS.TS.BS Nguyễn Thị Lâm cho rằng việc thiếu nhân lực chuyên môn đang ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng triển khai tại các trường học. Theo bà: “Hiện nay, phần lớn trường học chưa có cán bộ dinh dưỡng chuyên trách. Việc xây dựng thực đơn, theo dõi chất lượng bữa ăn hay tư vấn dinh dưỡng chủ yếu do giáo viên kiêm nhiệm hoặc đơn vị cung cấp suất ăn đảm nhận. Điều này khiến việc kiểm soát chất lượng dinh dưỡng chưa thực sự bài bản”.

Trong khi đó, giáo viên giáo dục thể chất cũng đang chịu nhiều áp lực khi điều kiện giảng dạy giữa các địa phương còn chênh lệch lớn. Nhiều trường, đặc biệt ở khu vực vùng sâu, vùng xa, còn thiếu sân chơi, bãi tập, nhà đa năng và các trang thiết bị phục vụ vận động. Thời lượng hoạt động thể chất của học sinh ở nhiều nơi chưa đáp ứng khuyến nghị của các tổ chức y tế quốc tế.

Theo chuyên gia, nếu trẻ không được vận động thường xuyên, trong khi thời gian sử dụng thiết bị điện tử ngày càng tăng, nguy cơ béo phì, rối loạn chuyển hóa, cong vẹo cột sống và nhiều bệnh không lây nhiễm sẽ ngày càng gia tăng.

“Nhiều phụ huynh vẫn có quan niệm chỉ cần cho con ăn nhiều là đủ dinh dưỡng, hoặc quá chú trọng học văn hóa mà xem nhẹ hoạt động thể chất. Trong khi đó, nhà trường lại khó kiểm soát chế độ ăn của trẻ ngoài giờ học. Nếu hai môi trường này không thống nhất thì hiệu quả can thiệp sẽ rất hạn chế”, bà phân tích.

PGS.TS.BS Nguyễn Thị Lâm phân tích, để giáo dục thể chất gắn với dinh dưỡng học đường phát huy hiệu quả, trước hết cần hoàn thiện hệ thống chính sách theo hướng đồng bộ và có tính bắt buộc cao hơn. Cần tiến tới xây dựng bộ tiêu chuẩn quốc gia về dinh dưỡng học đường, quy định rõ nhu cầu năng lượng, vi chất, khẩu phần ăn theo từng nhóm tuổi, tiêu chuẩn an toàn thực phẩm, yêu cầu về nhân lực chuyên môn và cơ chế giám sát thống nhất trên phạm vi toàn quốc.

“Khi có chuẩn chung, các địa phương sẽ có cơ sở để triển khai đồng bộ, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho công tác kiểm tra, đánh giá và điều chỉnh chính sách”, PGS.TS.BS Nguyễn Thị Lâm cho biết thêm.

Song song với đó, cần tiếp tục nhân rộng các mô hình bữa ăn học đường đạt chuẩn và chương trình sữa học đường trên cơ sở đánh giá khoa học.

Theo bà, mỗi mô hình cần được theo dõi đầy đủ các chỉ số về chiều cao, cân nặng, thể lực, tình trạng dinh dưỡng và hiệu quả kinh tế trước khi mở rộng để bảo đảm phù hợp với điều kiện của từng địa phương. Một giải pháp quan trọng khác là đưa giáo dục dinh dưỡng trở thành nội dung xuyên suốt trong chương trình học.

Theo PGS.TS.BS Nguyễn Thị Lâm, kiến thức về lựa chọn thực phẩm, xây dựng bữa ăn hợp lý, hạn chế đồ uống có đường, tăng cường rau xanh, trái cây, kết hợp vận động và ngủ đủ giấc cần được lồng ghép vào nhiều môn học và hoạt động trải nghiệm.

“Giáo dục sức khỏe không nên chỉ dừng lại ở việc truyền đạt kiến thức mà phải giúp học sinh hình thành kỹ năng và thói quen để các em có thể tự chăm sóc sức khỏe của mình”, bà chia sẻ.

box 3 (7)

Bên cạnh học sinh, đội ngũ giáo viên và cán bộ nhà trường cũng cần được đào tạo thường xuyên về dinh dưỡng học đường, an toàn thực phẩm và chăm sóc sức khỏe học sinh.

Theo chuyên gia, mỗi trường học nên có cán bộ được đào tạo chuyên sâu hoặc có sự hỗ trợ thường xuyên từ hệ thống y tế để tư vấn xây dựng thực đơn, theo dõi sức khỏe học sinh và phối hợp với phụ huynh trong các trường hợp cần can thiệp.

Đối với giáo dục thể chất, cần tăng đầu tư cơ sở vật chất, bảo đảm học sinh có đủ không gian vận động an toàn và đa dạng hóa các hoạt động thể thao phù hợp với từng độ tuổi.

Theo PGS.TS.BS Nguyễn Thị Lâm, hoạt động thể chất không chỉ diễn ra trong các tiết học giáo dục thể chất mà cần được duy trì trong suốt ngày học thông qua giờ ra chơi vận động, các câu lạc bộ thể thao, hoạt động ngoại khóa và các chương trình rèn luyện thân thể.

Bà cũng cho rằng việc xây dựng hệ thống giám sát sức khỏe học sinh trên phạm vi quốc gia là rất cần thiết.

Hệ thống này cần thu thập định kỳ các chỉ số chiều cao, cân nặng, chỉ số khối cơ thể, tình trạng thiếu vi chất, mức độ hoạt động thể lực và các yếu tố nguy cơ sức khỏe để làm căn cứ hoạch định chính sách.

hoc-sinh-6

Theo PGS.TS.BS Nguyễn Thị Lâm, việc xây dựng và hoàn thiện chính sách chỉ thực sự hiệu quả khi dựa trên hệ thống dữ liệu đầy đủ, tin cậy. Bà nhấn mạnh: “Chính sách muốn hiệu quả phải dựa trên dữ liệu. Khi có hệ thống theo dõi đầy đủ, chúng ta sẽ biết địa phương nào còn suy dinh dưỡng cao, nơi nào béo phì gia tăng, nhóm tuổi nào đang thiếu vận động để có giải pháp phù hợp”.

Xây dựng một thế hệ trẻ khỏe mạnh không phải là nhiệm vụ riêng của ngành giáo dục hay ngành y tế mà cần sự tham gia của cả hệ thống chính trị, chính quyền địa phương, doanh nghiệp và gia đình.

Việc xã hội hóa đầu tư cho bếp ăn, sân chơi, thiết bị thể thao hay chương trình chăm sóc sức khỏe học đường là cần thiết nhưng phải đi kèm cơ chế quản lý minh bạch, kiểm định chất lượng và giám sát thường xuyên.

Khẳng định đầu tư cho dinh dưỡng học đường và giáo dục thể chất chính là đầu tư cho tương lai của đất nước, PGS.TS.BS Nguyễn Thị Lâm nhấn mạnh: “Giáo dục thể chất và dinh dưỡng học đường cần được xem là một khoản đầu tư cho tương lai. Khi trẻ em được ăn uống hợp lý, vận động đầy đủ và phát triển khỏe mạnh, chúng ta không chỉ cải thiện tầm vóc mà còn góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, giảm gánh nặng bệnh tật và tạo nền tảng cho sự phát triển bền vững của đất nước”.

Trong bối cảnh Việt Nam đang hướng tới mục tiêu nâng cao chất lượng dân số và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, dinh dưỡng học đường không còn là câu chuyện của riêng bữa ăn bán trú hay các tiết học thể dục. Đó là một chính sách đầu tư cho con người, đòi hỏi sự vào cuộc đồng bộ của ngành y tế, giáo dục, nhà trường, gia đình và toàn xã hội. Chỉ khi dinh dưỡng và vận động thực sự song hành, trẻ em mới có nền tảng để phát triển toàn diện về thể chất, trí tuệ và sức khỏe lâu dài./.