Màn hình không còn vô hại: Trẻ em trước làn sóng bạo lực do AI tạo ra
Trẻ em trước làn sóng bạo lực do AI: Không thể chỉ trông chờ vào “nút cấm”
Từ góc độ giáo dục, xã hội học đến bảo vệ quyền trẻ em, các chuyên gia chỉ ra rằng việc hạn chế trẻ tiếp xúc với nội dung bạo lực do AI tạo ra không thể chỉ dừng ở lời nhắc nhở. Trẻ cần được trang bị khả năng phân biệt đúng - sai, phản biện thông tin và tự bảo vệ mình, trong khi môi trường số cũng phải được kiểm soát bằng những quy định phù hợp.
LTS: Sự phát triển nhanh của các công cụ trí tuệ nhân tạo (AI) đang khiến việc tạo video, hình ảnh ngày càng dễ dàng. Chỉ với những câu lệnh đơn giản, người dùng có thể tạo ra các nội dung có hình ảnh nhân vật đánh nhau, trả thù, gây tổn thương hoặc những tình huống bạo lực được dàn dựng như thật. Những video này sau đó có thể xuất hiện trên các nền tảng mạng xã hội, đặc biệt ở dạng video ngắn – loại nội dung trẻ em dễ tiếp cận và thường có khả năng thu hút sự chú ý cao.
Từ thực tế này, câu hỏi đặt ra không chỉ là trẻ đang xem gì, mà còn là những hình ảnh bạo lực được tạo ra và lan truyền với tốc độ lớn có thể tác động thế nào đến nhận thức, cảm xúc và hành vi của trẻ. Giáo viên, phụ huynh và các chuyên gia cũng đứng trước bài toán mới: làm sao nhận diện nội dung không phù hợp, hướng dẫn trẻ ứng xử và bảo vệ trẻ mà không biến việc sử dụng công nghệ thành một cuộc “cấm đoán” đơn thuần.
Tuyến bài “Màn hình không còn vô hại: Trẻ em trước làn sóng bạo lực do AI tạo ra” vì vậy sẽ tiếp cận vấn đề từ ba lớp: những gì trẻ đang nhìn thấy – tác động có thể xảy ra – trách nhiệm và giải pháp của gia đình, nhà trường, nền tảng và cơ quan quản lý. Tuyến bài ưu tiên các câu chuyện thực tế từ giáo viên, phụ huynh và trẻ em, kết hợp ý kiến chuyên gia để vấn đề gần với đời sống thay vì chỉ dừng ở cảnh báo lý thuyết.
Bài 3: Trẻ em trước làn sóng bạo lực do AI: Không thể chỉ trông chờ vào “nút cấm”
****
Trẻ thiếu trải nghiệm nên dễ nhầm lẫn đúng - sai
Theo TS Vũ Thu Hương, chuyên gia giáo dục, nguyên giảng viên Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, một trong những nguyên nhân khiến các nội dung do AI tạo ra, trong đó có những video mô phỏng hành vi bạo lực dưới dạng hoạt hình, hài hước, dễ thu hút trẻ em là bởi đời sống thực tế của nhiều em đang trở nên khá nghèo nàn về trải nghiệm
So với trước đây, trẻ em hiện nay có ít cơ hội tham gia các công việc gia đình, hoạt động tập thể hay trải nghiệm thực tế. Nhiều việc từ nhỏ như làm việc nhà, tự chăm sóc bản thân đến các hoạt động tại trường đều được người lớn làm thay hoặc kiểm soát khá chặt chẽ. Một ngày của trẻ có thể lặp lại với lịch trình đi học, học thêm, làm bài, ăn, ngủ mà thiếu những hoạt động đa dạng để khám phá và trải nghiệm.
Trong bối cảnh đó, điện thoại và các nền tảng trực tuyến trở thành một trong số ít không gian mang lại cho trẻ cảm giác mới lạ. Nội dung trên mạng lại được đầu tư mạnh về công nghệ, hình ảnh, âm thanh và cách kể chuyện với mục tiêu hàng đầu là thu hút người xem. Vì vậy, những gì xuất hiện trên mạng dễ trở nên hấp dẫn hơn nhiều so với những hoạt động lặp đi lặp lại mà trẻ trải qua hằng ngày.
Bên cạnh đó, trẻ cũng thường xuyên tiếp nhận những lời nhắc nhở mang tính giáo dục như “con nên làm thế này”, “con không được làm thế kia”. Theo chuyên gia, những nội dung nghiêm túc, khuôn phép vì thế có thể không còn tạo cảm giác mới mẻ; ngược lại, những nội dung nghịch ngợm, gây sốc, thậm chí vi phạm chuẩn mực lại dễ kích thích sự tò mò của trẻ.
TS Vũ Thu Hương cũng cho rằng trẻ có thể tìm thấy trong những nội dung bạo lực một hình thức giải tỏa cảm xúc. Khi phải chịu nhiều áp lực, bức xúc nhưng chưa có kỹ năng xử lý, trẻ có thể cảm thấy những nhân vật trong video đang “giải tỏa thay mình”. Tuy nhiên, điều này tiềm ẩn nguy cơ khiến trẻ hình thành cách nhìn sai lệch rằng gây hấn hoặc sử dụng bạo lực là một phương thức chấp nhận được để giải tỏa sự khó chịu.
“Trẻ không biết nhiều nhất là không biết đúng và sai, không biết cái gì được phép và cái gì không được phép. Vì vậy, khi xem những nội dung như vậy, các con có thể coi những hành vi được mô phỏng trong đó là điều có thể làm hoặc thậm chí nên làm”, TS Hương phân tích.
Đáng lưu ý, theo chuyên gia, một số trẻ có thể nhìn nhận hành vi bạo lực tương tự như trong trò chơi điện tử, từ đó không nhận thức đầy đủ rằng hành động ngoài đời thực có thể gây tổn thương cho người khác. Khi đó, trẻ có thể coi việc tấn công một người khiến mình khó chịu như một cách để giải tỏa hoặc như một hành động mà đối phương “xứng đáng” phải nhận.
TS Vũ Thu Hương cho biết, trong thực tế giáo dục, có những trẻ hình thành biểu hiện hung tính, khi không hài lòng hoặc cảm thấy khó chịu có xu hướng đánh người khác, thậm chí tiếp tục hành vi này dù đã được nhắc nhở, kỷ luật hay khuyên bảo. Theo bà, một trong những nguyên nhân có thể nằm ở việc trẻ chưa hình thành được nhận thức rõ ràng về ranh giới giữa hành vi được phép và không được phép, cũng như hậu quả của hành vi gây ra.
Trước thực tế trẻ tiếp xúc với nội dung bạo lực do AI tạo ra, TS Vũ Thu Hương cho rằng người lớn không nên chỉ dừng ở việc cấm đoán hay đưa ra các quy tắc sử dụng thiết bị. Theo bà, trước hết cần giảm thời gian trẻ sử dụng thiết bị điện tử, nhưng cách làm hiệu quả không phải đơn thuần là “cấm” mà phải tạo ra những lựa chọn khác hấp dẫn và có ý nghĩa cho trẻ.
“Chúng ta cần làm phong phú cuộc sống của các con bằng những hoạt động như làm việc nhà, làm đồ handmade, tham gia câu lạc bộ, khám phá thiên nhiên, trải nghiệm xã hội, chơi thể thao... Khi trẻ có những niềm vui và trải nghiệm thực tế, các con sẽ bớt phụ thuộc vào thiết bị điện tử và những nội dung trên mạng”, TS Hương nói.
Đặc biệt, chuyên gia nhấn mạnh giá trị giáo dục phải được đặt trong chính những hoạt động đó. Trẻ cần được trực tiếp chứng kiến và trải nghiệm hậu quả của hành vi đúng, sai thay vì chỉ nghe người lớn giảng giải. Khi một trẻ có hành vi sai và hành vi đó ảnh hưởng đến tập thể, giáo viên có thể giúp cả nhóm nhận diện hậu quả mà hành vi ấy gây ra. Từ những trải nghiệm như vậy, trẻ dần hình thành quy tắc ứng xử cho chính mình và hiểu điều gì nên làm, điều gì không nên làm.
Về vai trò của nhà trường, TS Vũ Thu Hương cho rằng giáo dục học sinh không nên chỉ dừng ở kiến thức trong sách giáo khoa mà cần đưa các tình huống thực tế vào hoạt động giáo dục để trẻ được rèn kỹ năng phòng tránh và ứng phó.
Bên cạnh năng lực số, học sinh cần được trang bị kỹ năng nhận diện các tình huống nguy hiểm, hiểu hậu quả đối với cả người gây ra hành vi và người bị ảnh hưởng. Khi được luyện tập thường xuyên, trẻ có thể hình thành “phản xạ” nhận biết điều đúng, điều sai trong từng tình huống cụ thể.
Nhà trường có thể tổ chức các buổi tọa đàm, hoạt động tập thể, đưa những tình huống rủ rê đánh nhau, nội dung bạo lực hoặc những yêu cầu không phù hợp trên môi trường mạng vào thảo luận. Quan trọng là học sinh cần được phân tích cụ thể những hành vi đó có thể gây ra hậu quả gì và vì sao cần tránh.
“Những tình huống càng được đề cập cụ thể, trẻ càng có khả năng hình thành kỹ năng ứng phó và tự bảo vệ mình”, TS. Vũ Thu Hương nhận định, đồng thời chỉ ra rằng giáo dục kỹ năng phòng vệ nên được triển khai ở quy mô toàn trường, bởi khi học sinh cùng được trang bị kiến thức và cùng hình thành một chuẩn mực ứng xử, khả năng tự bảo vệ của mỗi em sẽ được củng cố bởi chính tập thể.
Thay vì chỉ để một đứa trẻ học cách tự bảo vệ mình, chúng ta có thể tạo ra cả một môi trường mà trong đó học sinh cùng nhận diện cái gì nguy hiểm, cái gì không được phép và cùng có phản ứng trước những hành vi đó. Khi ấy, cơ chế phòng vệ của trẻ sẽ mạnh hơn rất nhiều.
Theo chuyên gia, cách tiếp cận này cũng có thể áp dụng với những nội dung độc hại trên môi trường số, trong đó có video bạo lực do AI tạo ra. Khi trẻ được giải thích rõ đâu là nội dung hư cấu, đâu là hành vi nguy hiểm ngoài đời thực, đồng thời hiểu được hậu quả của việc bắt chước hoặc tham gia vào những hành vi đó, các em sẽ có cơ sở để chủ động từ chối những nội dung không phù hợp thay vì chỉ làm theo yêu cầu “không được xem” của người lớn.
Trẻ em dễ bị tác động khi thiếu năng lực phản biện
Từ góc độ xã hội học, GS.TSKH Phạm Tất Dong, Nguyên Phó Chủ tịch Hội Khuyến học Việt Nam cho rằng vấn đề đáng lưu ý không chỉ nằm ở tốc độ AI tạo ra nội dung mà còn ở khả năng tiếp nhận, phân tích và đánh giá thông tin của người sử dụng, nhất là trẻ em.
Người trưởng thành có thể sử dụng AI để tìm kiếm, phân tích tài liệu, sau đó tự kiểm chứng và quyết định có đồng ý với kết quả AI đưa ra hay không. Tuy nhiên, với trẻ em, khả năng phân biệt đúng - sai và phản biện thông tin chưa hoàn thiện, nên nguy cơ tiếp nhận và làm theo những nội dung sai lệch có thể cao hơn. Ông cho rằng điều này đặt ra yêu cầu tăng cường giáo dục trong gia đình, giúp trẻ hình thành khả năng nhận biết, phân tích và phản biện thông tin thay vì chỉ đơn thuần hạn chế thiết bị.
Theo GS.TSKH Phạm Tất Dong, sự xuất hiện của AI đang làm thay đổi đáng kể tốc độ và quy mô lan truyền thông tin. Nếu trước đây mạng xã hội đã khiến thông tin được truyền đi nhanh, thì AI tiếp tục làm gia tăng khả năng tạo ra lượng lớn nội dung trong thời gian rất ngắn. Sự lan truyền này giống như một “dây chuyền”: một người biết, chia sẻ cho người thứ hai; người thứ hai tiếp tục chia sẻ cho nhiều người khác, khiến thông tin có thể nhanh chóng lan rộng trong một cộng đồng.
Đặc biệt, với trẻ em, một nội dung xuất hiện ở một quốc gia có thể được chia sẻ đến trẻ em ở quốc gia khác chỉ trong thời gian rất ngắn. Theo ông, đây là điểm khác biệt đáng chú ý giữa xã hội công nghiệp, xã hội thông tin và xã hội có AI. “Thông tin truyền đi ngày càng nhanh khiến tâm lý con người cũng thay đổi quá nhanh”, ông nhận định.
GS.TSKH Phạm Tất Dong cho rằng tốc độ lan truyền của thông tin cũng khiến những nội dung sai lệch, độc hại hoặc chưa được kiểm chứng có khả năng thẩm thấu nhanh hơn vào đời sống xã hội. Vì vậy, việc bảo vệ trẻ em trước nội dung độc hại trên môi trường số không thể chỉ dựa vào khả năng tự kiểm soát của các em.
Theo GS.TSKH Phạm Tất Dong, để hạn chế tác động của nội dung độc hại do AI tạo ra, cần đồng thời tác động vào cả môi trường gia đình, nhà trường, xã hội và những người tạo ra nội dung. Ông cho rằng trong nhà trường, công nghệ có thể được sử dụng để hỗ trợ học tập nếu được tổ chức và kiểm soát phù hợp. Khi ở nhà, cha mẹ cũng cần quan tâm đến cách trẻ sử dụng điện thoại, máy tính và các công cụ AI, thay vì chỉ trang bị thiết bị cho con nhưng không hướng dẫn cách sử dụng.
Tuy nhiên, theo ông, trách nhiệm không thể chỉ đặt lên trẻ em, phụ huynh và nhà trường. Cùng với giáo dục và định hướng từ gia đình, cần có biện pháp ngăn chặn và xử lý những người cố tình sử dụng AI để tạo ra nội dung độc hại, tác động tiêu cực đến trẻ em.
“Việc xây dựng các quy định về sử dụng mạng, trách nhiệm xã hội và đạo đức trên môi trường số là cần thiết trong bối cảnh công nghệ ngày càng phát triển. Đồng thời, cơ quan chức năng cần có khả năng truy tìm, xác định trách nhiệm của những người sử dụng AI để tạo ra nội dung gây tác động tiêu cực, đặc biệt là nội dung hướng tới trẻ em”, GS.TSKH Phạm Tất Dong nêu quan điểm.
Không để khoảng trống pháp lý trở thành khoảng trống bảo vệ trẻ em
Sự phát triển nhanh của trí tuệ nhân tạo (AI) giúp trẻ em dễ dàng tiếp cận nhiều dạng hình ảnh, video trên môi trường số, trong đó có những nội dung mô phỏng hành vi bạo lực, nguy hiểm.
Từ góc độ bảo vệ quyền trẻ em, ThS. Hà Đình Bốn, Phó Chủ tịch Hội Bảo vệ quyền trẻ em Việt Nam, Nguyên Vụ trưởng Vụ Pháp chế thuộc Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, nhận định điều này đòi hỏi một cách tiếp cận không chỉ tập trung vào việc kiểm soát trẻ em sử dụng thiết bị hay yêu cầu cha mẹ giám sát con, mà cần có sự tham gia đồng bộ của nhiều chủ thể trong toàn bộ môi trường số.
“Sự phát triển của công nghệ là tất yếu khách quan, chúng ta cần phải tận dụng và thích nghi với xu thế mới nhưng phải khẩn trương, kịp thời đưa ra các giải pháp hữu hiệu, kịp thời ban hành những văn bản quy phạm pháp luật, tạo hành lang pháp lý để hạn chế thấp nhất những tiêu cực, hệ lụy của AI đối với xã hội nói chung, trong đó có trẻ em”, ông Bốn nói, đồng thời cho rằng bên cạnh việc tiếp tục xây dựng, hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, cần áp dụng ngay những hành lang pháp lý hiện hành để kịp thời ngăn chặn, xử lý các hành vi lợi dụng AI gây tác hại, xâm phạm các quyền của cho trẻ em.
Theo ông Hà Đình Bốn, hệ thống pháp luật hiện nay đã có những quy định liên quan đến việc bảo vệ trẻ em trên môi trường mạng. Luật Trẻ em, Luật An ninh mạng cùng các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đã có nhiều quy định nhằm bảo vệ trẻ em đối với những hành vi xâm hại quyền và lợi ích hợp pháp của trẻ em. Tuy nhiên, sự phát triển rất nhanh của công nghệ AI cũng khiến một số vấn đề mới pháp sinh mà hệ thống pháp luật chưa kịp quy định một cách đầy đủ, cụ thể.
Dù vậy, việc một số vấn đề mới sinh chưa có quy định không đồng nghĩa với việc các hành vi gây ảnh hưởng đến trẻ em trên môi trường số không có cơ sở để xử lý. Những quy định hiện hành về bảo vệ trẻ em, an ninh mạng và xử phạt vi phạm hành chính trong các lĩnh vực liên quan vẫn cần được thực hiện và vận dụng cho phù hợp với tinh thần mòi hành vi xâm phạm quyền trẻ em đều bị xử và ngăn chặn kịp thời, đồng thời các cơ quan, tổ chức có liên quan cần khẩn chương rà soát, hệ thống hóa các văn bản pháp luật, chỉ ra những bất cập, quy định không còn phù hợp, tìm ra khoảng trống pháp lý. Để kiến nghị các cơ quan nhà nước có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung hoàn thiện, tạo hành lang pháp lý về klhoa học, công nghệ AI để đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế- xã hội đất nước, bảo đfảm quyền và lời ích chính đáng của công dân.
Đối với lĩnh vực công nghệ thông tin, liên quan đến AI thì còn rất nhiều khoảng trống mà chưa có văn bản quy phạm pháp luật quy định. Trước mắt, các cơ quan quản lý nhà nước cần khẩn trương rà soát, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, chỉ ra những điểm bất cập, những khoảng trống pháp lý, để kiến nghị các cơ quan nhà nước có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung, đặc biệt là những điểm thiếu hụt chưa có quy định và cần kịp thời quy định, hướng dẫn cụ thể hơn đối với các vấn đề phát sinh từ AI.
Trong lúc chưa ban hành kịp những văn bản mới thì chúng ta cần chỉ đạo, hướng dẫn kiên quyết xử lý những hành vi lợi dụng công nghệ AI để tạo ra, phổ biến hoặc cổ súy nội dung bạo lực, gây hại cho trẻ em. Bất kể bằng hình thức nào mà phổ biến, cổ súy cho hành vi bạo lực đều cần được xử lý theo tinh thần mọi hành vi xâm hại quyền trẻ em đều bị ngăn chặn và xử lý kịp thời, nghiêm minh”, ông Bốn nhấn mạnh.
Ông Hà Đình Bốn cho rằng yêu cầu đặt ra hiện nay không chỉ là xây dựng và hoàn thiện hệ thống các văn bản quy định pháp luật mà còn phải hình thành cơ chế phối hợp đồng bộ giữa các cơ quan quản lý, nhà trường, gia đình và các tổ chức chính trị - xã hội và các tổ chức xã hội. Huy động, kích hoạt sự tham gia của cả hệ thống chính trị từ Trung ương đến địa phương, trong đó, các cơ quan quản lý nhà nước có trách nhiệm rà soát, hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật quy định về công nghệ AI; các cơ sở giáo dục cần có định hướng và quy chế cụ thể về việc sử dụng AI trong trường học, đồng thời hướng dẫn học sinh sử dụng công nghệ an toàn, lành mạnh, có kỹ năng phòng trách rủi ro.
“Ngành giáo dục, các cơ sở giáo dục cũng phải bổ sung, sửa đổi chương trình giáo dục, cập nhật quy định mới, tiến hành giáo dục, định hướng cụ thể, rõ ràng và có những quy chế, hướng dẫn về việc sử dụng AI trong trường học cũng như trong việc sử dụng đối với trẻ em”, ông Bốn nói.
Một giải pháp khác được ông Bốn nhấn mạnh là tăng cường phổ biến, giáo dục pháp luật và kỹ năng nhận diện nguy cơ trên môi trường số cho cả người lớn và trẻ em. Theo ông, phụ huynh, giáo viên cần được trang bị kiến thức để đồng hành cùng trẻ em, trong khi bản thân trẻ em cũng phải được hướng dẫn cách nhận diện những nội dung độc hại như video bạo lực do AI tạo có thể gây ảnh hưởng đến mình trên không gian mạng.
Phải tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật cho tất cả mọi người, các phụ huynh cũng như các thầy cô giáo và đặc biệt là đối với các em học sinh nhằm giúp trẻ em nâng cao cảnh giác, tránh trở thành nạn nhân của những hành vi lợi dụng công nghệ, đồng thời hạn chế nguy cơ trẻ tiếp tục trở thành mắt xích trong việc lan truyền những nội dung có hại.
Ông Hà Đình Bốn cũng đề nghị các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, trong đó có Hội bảo vệ Quyền trẻ em Việt Nam, các tổ chức bảo vệ trẻ em ở địa phương, cơ sở, tăng cường phối hợp với cơ quan chức năng để tuyên truyền, phát hiện, ngăn chặn và xử lý kịp thời các hành vi xâm hại trẻ em trên môi trường số.
Huy động và phát huy sức mạnh đồng bộ của các lực lượng trong hệ thống chính trị từ Trung ương đến cơ sở, từ gia đình, nhà trường cho đến xã hội, tất cả các cơ quan, tổ chức và kể cả trẻ em để áp dụng công nghệ phục vụ hiệu qủa cao cho đời sống con người, đồng thời chúng ta kịp thời áp dụng các giải pháp để ngăn chặn, xử lý những tác động tiêu cực của AI.










