Trẻ liên tục chớp mắt, nhún vai: Cẩn trọng với bệnh Tíc
Những cái chớp mắt, giật vai, nhếch miệng hay hắng giọng liên tục ở trẻ có thể là biểu hiện của bệnh Tic. Nhận diện đúng triệu chứng, đưa trẻ đi khám khi cần và thay đổi cách ứng xử của cha mẹ sẽ giúp trẻ giảm áp lực, tránh mặc cảm trong học tập và giao tiếp.
Tại bệnh viện Nhi Đồng 2 (TP. HCM), trung bình mỗi ngày tiếp nhận khoảng 20-30 trẻ đến khám và theo dõi các vấn đề liên quan đến rồi loạn Tic, bao gồm cả bệnh nhi mới và bệnh nhi tái khám.
Khoảng một tháng trước khi được đưa đi khám, bé D.H đang sinh sống tại Đà Nẵng bắt đầu xuất hiện những biểu hiện bất thường. Bé liên tục chớp mắt, giật vai, giật bụng và có lúc giật cả thân mình. Các triệu chứng mới xuất hiện trong thời gian ngắn nhưng biểu hiện khá rầm rộ khiến gia đình lo lắng.
Trước đó, D.H đã được bác sĩ chẩn đoán rối loạn phổ tự kỷ. Khi nhận thấy những biểu hiện mới, gia đình chủ động đưa con từ Đà Nẵng vào TP. HCM để thăm khám. “Gia đình đã có kiến thức về bệnh Tic. Sau khi thấy các triệu chứng xuất hiện, gia đình quyết định đưa bé vào khám”, người nhà D.H chia sẻ.
Trường hợp của bé H.G.H (7 tuổi, ở Tây Ninh) lại diễn ra trong thời gian dài hơn. Các triệu chứng bắt đầu xuất hiện từ tháng 10/2024. Ban đầu, trẻ có những biểu hiện như chớp mắt, chun mũi, nhếch miệng và thỉnh thoảng giật vai.
Những biểu hiện này khá nhẹ nên gia đình chưa nghĩ đến rối loạn Tic. “Lúc đầu gia đình chỉ nghĩ cháu có những hành động kỳ quặc nên chưa cho đi khám”, người nhà H.G.H cho biết. Sau một thời gian, H.G.H xuất hiện thêm các biểu hiện Tic âm thanh như ho, hắng giọng, hòm hèm và tằng hắng. Khi các triệu chứng rõ ràng hơn, gia đình mới đưa trẻ đến cơ sở y tế.
Những dạng Tic thường gặp ở trẻ
Theo nghiên cứu rối loạn Tic thường khởi phát ở trẻ 4-7 tuổi, trong khi các biểu hiện có xu hướng bộc lộ rầm rộ hơn ở giai đoạn 8-12 tuổi. Trẻ nam mắc Tic nhiều hơn trẻ nữ, với tỷ lệ khoảng 3-4 nam/1 nữ. Rối loạn Tic có hai nhóm biểu hiện chính là Tic vận động và Tic âm thanh.
Tic vận động đơn giản thường gặp là chớp mắt, giật mũi, nhếch miệng, nhún vai, gật hoặc lắc đầu. Ở dạng phức tạp hơn, trẻ có thể búng tay, nhảy chồm, vuốt tóc, nhại động tác của người khác hoặc tự đánh vào bản thân.
Với Tic âm thanh, trẻ có thể hắng giọng, ho húng hắng, tặc lưỡi, khịt mũi hoặc phát ra những tiếng rên, tiếng kêu ngắn. Một số trường hợp có thể lặp lại từ ngữ của bản thân hoặc nhại lại lời người khác. Mức độ biểu hiện ở mỗi trẻ cũng khác nhau.
Trường hợp nhẹ thường xuất hiện thưa thớt, thoáng qua và chưa ảnh hưởng đến sinh hoạt hoặc học tập. Khi biểu hiện tăng lên, trẻ có thể bối rối, tự ti. Ở mức độ nặng, các cử động lặp đi lặp lại có thể gây mỏi cơ, đau cổ, đau vai.
Tic âm thanh có thể ảnh hưởng đến giao tiếp và việc học tập. Một số trẻ mắc tic đồng thời có các rối loạn đi kèm như tăng động giảm chú ý (ADHD), rối loạn ám ảnh cưỡng chế (OCD), lo âu hoặc trầm cảm. Thực tế thăm khám cho thấy, biểu hiện ban đầu của Tic đôi khi khá đơn giản nên dễ bị gia đình bỏ qua.
Bệnh Tic có thể thuyên giảm nhưng cần được theo dõi
Theo BS.CKII Phạm Hải Uyên, Bệnh viện Nhi Đồng 2 TP. HCM, khi tiếp nhận trẻ có biểu hiện nghi ngờ rối loạn Tic, bác sĩ sẽ khai thác kỹ bệnh sử. Thời điểm khởi phát, dạng Tic, tần suất xuất hiện và hoàn cảnh khiến triệu chứng tăng hoặc giảm đều được xem xét.
Bác sĩ cũng tìm hiểu các yếu tố có thể làm triệu chứng nặng hơn như áp lực học tập, thời gian sử dụng thiết bị điện tử, thiếu ngủ hoặc những biến cố tâm lý. Tiền sử gia đình về Tic, hội chứng Tourette, ADHD hoặc OCD cũng được khai thác. Trong quá trình thăm khám, bác sĩ đánh giá hình thái Tic và mức độ ảnh hưởng của triệu chứng. Thang điểm Yale Global Tic Severity Scale (YGTSS) được sử dụng để xác định mức độ nặng.
Bác sĩ đồng thời cần chẩn đoán phân biệt để loại trừ những bệnh lý thần kinh khác như động kinh, múa vờn, viêm não hoặc tác dụng phụ của thuốc. Điện não đồ (EEG), MRI sọ não hoặc các xét nghiệm chuyên sâu được chỉ định trong những trường hợp cần thiết nhằm loại trừ tổn thương thực thể hoặc cơn động kinh. Việc điều trị được cá thể hóa dựa trên mức độ bệnh và ảnh hưởng của tic đến sinh hoạt, học tập cũng như tâm lý của trẻ. Với trường hợp nhẹ, trẻ thường được tư vấn, trấn an và theo dõi.
Gia đình cần tạo môi trường sinh hoạt ổn định, đảm bảo trẻ ngủ đủ giấc, cân bằng thời gian học tập và vui chơi, đồng thời giảm những yếu tố có thể làm trẻ căng thẳng. Khi tic ở mức độ trung bình hoặc nặng, ảnh hưởng đến giao tiếp, học tập, sinh hoạt hoặc gây đau mỏi, trẻ có thể được can thiệp bằng liệu pháp hành vi.
Hai phương pháp được sử dụng là liệu pháp đảo ngược thói quen (HRT) và Can thiệp hành vi toàn diện cho Tic (CBIT). Một số trường hợp nặng có thể cần phối hợp điều trị bằng thuốc theo chỉ định của bác sĩ chuyên khoa.
Theo BS.CKII Phạm Hải Uyên, rối loạn Tic không phải bệnh lý thoái hóa. Diễn tiến tự nhiên của bệnh thường có xu hướng thuyên giảm khi trẻ lớn lên. Khoảng 70-80% trường hợp có thể giảm nhẹ hoặc biến mất hoàn toàn khi bước vào tuổi vị thành niên và trưởng thành. Trong khi đó, khoảng 10-20% trường hợp có biểu hiện Tic tiếp tục tồn tại dai dẳng đến tuổi trưởng thành.
Những trẻ có Tic thoáng qua, thời gian xuất hiện dưới một năm, biểu hiện đơn giản và không có rối loạn đi kèm thường có khả năng thuyên giảm thuận lợi hơn. Môi trường sống tích cực, ít áp lực cũng là yếu tố có lợi cho trẻ. Ngược lại, trẻ mắc hội chứng Tourette, có cả Tic vận động và Tic âm thanh kéo dài trên một năm, hoặc có các rối loạn đi kèm như ADHD, OCD, lo âu có nguy cơ diễn tiến dai dẳng hơn. Tiền sử gia đình có người mắc Tic hoặc Tourette cũng là yếu tố cần lưu ý.
Theo bác sĩ, một trong những vấn đề đáng quan tâm là phản ứng của người lớn trước các biểu hiện của trẻ. Tic là những hành động hoặc âm thanh không chủ ý. Vì vậy, cha mẹ không nên liên tục nhắc trẻ phải dừng lại, quát mắng hoặc cho rằng trẻ cố tình làm để gây chú ý.
“Việc liên tục soi xét, la mắng hoặc ép trẻ phải ngừng các biểu hiện Tic có thể khiến trẻ căng thẳng và làm triệu chứng xuất hiện dồn dập hơn”, BS.CKII Phạm Hải Uyên khuyến cáo.
Thay vì tập trung vào từng cái chớp mắt hay tiếng hắng giọng của con, cha mẹ nên giữ thái độ bình thường và tạo môi trường sinh hoạt thoải mái. Nhà trường cũng cần được thông tin để giáo viên hiểu rằng trẻ không cố tình gây mất trật tự hoặc thực hiện những hành động bất thường. Phụ huynh nên đưa trẻ đi khám khi các biểu hiện tic xuất hiện với tần suất ngày càng dày, gây đau mỏi hoặc tổn thương cơ thể.
Trẻ cũng cần được đánh giá y tế khi Tic ảnh hưởng rõ rệt đến học tập, giao tiếp, ăn uống, viết lách hoặc khiến trẻ xấu hổ, thu mình. Đặc biệt, nếu trẻ xuất hiện thêm các dấu hiệu như co giật, yếu cơ, đau đầu, mất tập trung, tăng động hoặc các hành vi lặp đi lặp lại bất thường, cha mẹ không nên tự phán đoán mà cần đưa trẻ đến cơ sở y tế để được thăm khám.












