GS.TSKH.BS. Dương Quý Sỹ: Đầu tư dinh dưỡng học đường là đầu tư cho tầm vóc, trí tuệ và nguồn nhân lực tương lai
Bài viết này trong chuyên đề Dinh dưỡng học đường
Đây là nhận định của GS.TSKH.BS. Dương Quý Sỹ - Ủy viên Hội đồng Quốc gia Giáo dục và Phát triển nhân lực, Chủ tịch Hội Y học Giấc ngủ Việt Nam; Giáo sư ĐHYK Penn State (Mỹ), Giáo sư kiêm nhiệm ĐH Paris Cité (Pháp), Trưởng Bộ môn Y học Giấc ngủ - Trường ĐHYD/ĐHQG Hà Nội, nguyên Bí thư, Hiệu trưởng, Chủ tịch Hội đồng Trường Cao đẳng Y tế Lâm Đồng khi trao đổi với phóng viên Tạp chí Trẻ em Việt Nam về vai trò của dinh dưỡng học đường trong phát triển con người Việt Nam.
Theo GS.TSKH.BS. Dương Quý Sỹ, cùng với dinh dưỡng gia đình, dinh dưỡng học đường giữ vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển toàn diện của trẻ em. Tuy nhiên, trong thực tế, vấn đề này vẫn chưa được nhìn nhận đúng và đầy đủ.
Theo ông, nguồn nhân lực của Việt Nam trong những thập niên tới chính là những trẻ em đang học tập tại các trường mầm non, tiểu học và phổ thông hôm nay. Nếu muốn có một thế hệ người Việt Nam khỏe mạnh hơn, cao lớn hơn, có sức bền thể chất, khả năng tư duy và sáng tạo tốt hơn thì việc đầu tư phải bắt đầu từ rất sớm.
Qua thực tế khảo sát dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm học đường, GS.TSKH.BS. Dương Quý Sỹ nhận thấy sự quan tâm giữa các địa phương, nhà trường và gia đình vẫn chưa đồng đều. Có nơi chú trọng đến chất lượng bữa ăn, nhưng cũng có nơi việc tổ chức bữa ăn bán trú còn phụ thuộc nhiều vào điều kiện kinh tế, cơ sở vật chất, nguồn nhân lực và mức độ quan tâm của từng cơ sở giáo dục.
Điều đáng nói, sức khỏe học đường không chỉ được quyết định bởi những gì trẻ ăn. Giáo sư cho rằng cần thay đổi cách tiếp cận theo hướng toàn diện hơn, dựa trên ba trụ cột là dinh dưỡng, vận động và giấc ngủ.
“Ở trẻ em mọi lứa tuổi, dinh dưỡng cung cấp nguyên liệu cần thiết cho tăng trưởng; vận động giúp phát triển hệ cơ xương, hô hấp, tim mạch và chuyển hóa; giấc ngủ có vai trò đặc biệt quan trọng đối với quá trình phục hồi, phát triển thần kinh, củng cố trí nhớ và hình thành tư duy”, ông phân tích.
Đặc biệt, giấc ngủ thường chưa được đặt đúng vị trí trong các chương trình chăm sóc sức khỏe học đường. Theo Giáo sư, hormone tăng trưởng được bài tiết mạnh vào đầu giấc ngủ và trong các giai đoạn ngủ sâu vào ban đêm. Vì vậy, trẻ được ăn uống đầy đủ nhưng thường xuyên thức khuya, ngủ không đủ thời gian vẫn có thể bị ảnh hưởng đến quá trình phát triển thể chất và thần kinh.
Trong bối cảnh trẻ em ngày càng tiếp xúc nhiều với điện thoại thông minh, máy tính bảng và các thiết bị số, việc giáo dục vệ sinh giấc ngủ càng trở nên cần thiết. Dinh dưỡng tốt nhưng thiếu ngủ, ít vận động cũng không thể tạo nên một nền tảng sức khỏe toàn diện.
GS.TSKH.BS. Dương Quý Sỹ cho rằng Việt Nam đã có nhiều chủ trương, quy định liên quan đến sức khỏe học đường, dinh dưỡng và an toàn thực phẩm. Tuy nhiên, vị trí của dinh dưỡng học đường trong tổng thể chính sách giáo dục vẫn chưa tương xứng với vai trò của vấn đề này.
Theo ông, chính sách giáo dục lâu nay tập trung nhiều vào dạy và học, kết quả học tập, thi cử, đội ngũ giáo viên và cơ sở vật chất, trong khi dinh dưỡng học đường, bếp ăn bán trú và nhân lực y tế học đường chưa được đầu tư tương xứng.
“Không thể đòi hỏi một học sinh đạt hiệu quả học tập tối ưu nếu trẻ đang thiếu vi chất, suy dinh dưỡng, thừa cân - béo phì, ít vận động hoặc thiếu ngủ kéo dài”, Giáo sư nhấn mạnh.
Từ góc độ này, ông cho rằng cần chuyển từ tư duy coi chăm sóc sức khỏe học đường là một hoạt động hỗ trợ sang nhận thức rằng sức khỏe học đường và dinh dưỡng học đường là điều kiện cần thiết để hình thành chất lượng giáo dục.
Một trường học trong tương lai không chỉ được đánh giá bằng thành tích học tập mà còn phải được nhìn nhận qua khả năng tạo ra môi trường giúp học sinh phát triển toàn diện về trí, thể và mỹ.
Trong bối cảnh Việt Nam hướng tới mục tiêu trở thành nước có thu nhập cao vào năm 2045, yêu cầu này càng trở nên cấp thiết. Giáo sư cho rằng một quốc gia muốn có nguồn nhân lực chất lượng cao không thể chỉ bắt đầu đầu tư khi trẻ bước vào đại học, cao đẳng hoặc thị trường lao động.
Theo đó, trong chiến lược phát triển nguồn nhân lực đến năm 2045, cần nghiên cứu xây dựng một chương trình quốc gia về sức khỏe học đường toàn diện. Dinh dưỡng không nên đứng riêng lẻ mà cần tích hợp với hoạt động thể chất, sức khỏe giấc ngủ, sức khỏe tâm thần, phòng chống bệnh không lây nhiễm và giáo dục hành vi sức khỏe.
Mục tiêu cuối cùng không chỉ là tạo ra “một bữa ăn bán trú tốt” mà phải hướng đến một thế hệ trẻ em Việt Nam có tầm vóc tốt, thể lực tốt, trí lực tốt và khả năng sống khỏe mạnh trong suốt vòng đời.
Một trong những vấn đề GS.TSKH.BS. Dương Quý Sỹ đặc biệt lưu ý là sự tồn tại đồng thời của suy dinh dưỡng, thiếu vi chất và thừa cân, béo phì ở trẻ em.
Theo ông, khi điều kiện kinh tế được cải thiện, khẩu phần ăn của trẻ có thể tăng lên nhưng nếu kiến thức dinh dưỡng không theo kịp thì nguy cơ mất cân đối lại xuất hiện. Trẻ có thể tiêu thụ nhiều năng lượng từ đồ uống có đường, thức ăn nhanh, thực phẩm chế biến sẵn nhưng vẫn thiếu các vitamin và khoáng chất cần thiết.
“Trẻ béo phì không đồng nghĩa với đủ dinh dưỡng. Có những trường hợp thừa năng lượng nhưng thiếu vi chất”, Giáo sư cảnh báo.
Đây chính là một biểu hiện của “gánh nặng kép” về dinh dưỡng. Một mặt, ở một số khu vực còn khó khăn, trẻ vẫn phải đối mặt với suy dinh dưỡng và thiếu vi chất. Mặt khác, tại các đô thị, tình trạng thừa cân, béo phì có xu hướng gia tăng.
Do đó, chính sách dinh dưỡng học đường không thể áp dụng một cách máy móc cho mọi đối tượng. Bên cạnh chương trình dành cho học sinh nói chung, cần quan tâm đến các nhóm trẻ đặc thù như trẻ khuyết tật, trẻ em dân tộc thiểu số, trẻ thuộc hộ nghèo và trẻ ở những vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn.
“Không thể để điều kiện kinh tế - xã hội hay sự khác biệt vùng miền quyết định bữa ăn tối thiểu của trẻ”, GS.TSKH.BS. Dương Quý Sỹ nhấn mạnh.
Theo Giáo sư, ngành giáo dục cần có đội ngũ nhân viên y tế học đường được trang bị kiến thức về dinh dưỡng trẻ em để có thể theo dõi tăng trưởng, hỗ trợ xây dựng khẩu phần và tư vấn cho phụ huynh.
Đồng thời, cán bộ quản lý giáo dục, giáo viên cũng cần có kiến thức cơ bản về dinh dưỡng để có thể tuyên truyền cho học sinh và gia đình.
Một trong những đề xuất được GS.TSKH.BS. Dương Quý Sỹ nhấn mạnh là Việt Nam cần xây dựng Bộ tiêu chí quốc gia về bữa ăn học đường theo từng cấp học, từng độ tuổi.
Qua khảo sát thực tế, điều kiện tổ chức bữa ăn giữa các trường còn rất khác nhau. Sự khác biệt này chịu ảnh hưởng bởi điều kiện kinh tế - xã hội, quy mô trường học, kinh phí đầu tư, thói quen ăn uống địa phương và sự quan tâm của nhà trường, phụ huynh.
Theo Giáo sư, bộ tiêu chí cần xác định những yêu cầu cốt lõi nhưng vẫn cho phép các địa phương linh hoạt trong tổ chức thực hiện.
“Cần chuẩn hóa những yêu cầu cốt lõi và linh hoạt trong tổ chức thực hiện”, ông đề xuất.
Trong đó, cần quy định rõ tổng năng lượng khẩu phần theo độ tuổi, cơ cấu giữa các nhóm chất, thành phần chính của bữa ăn và đặc biệt chú trọng vi chất. Bên cạnh đó là tiêu chuẩn đối với nguồn nguyên liệu, vận chuyển, bảo quản, chế biến, lưu mẫu, truy xuất nguồn gốc và quy trình xử lý khi xảy ra ngộ độc thực phẩm trong trường học.
Việc công khai thực đơn, giá trị dinh dưỡng và nguồn cung thực phẩm cũng cần được chú trọng. Khi phụ huynh biết con mình ăn gì, nguồn thực phẩm từ đâu và giá trị dinh dưỡng ra sao, phụ huynh có thể cùng nhà trường giám sát chất lượng bữa ăn.
“Bữa ăn học đường cần được đặt trong một hệ thống quản trị có trách nhiệm giải trình và minh bạch, trong đó nhà trường, đơn vị cung cấp thực phẩm, gia đình và cơ quan quản lý đều có vai trò”, ông nói.
Theo Giáo sư, việc xây dựng bộ tiêu chí không nhằm tạo thêm thủ tục hành chính mà phải giúp các trường có căn cứ chuyên môn để tổ chức bữa ăn khoa học, an toàn và phù hợp với lứa tuổi.
Một hạn chế khác được GS.TSKH.BS. Dương Quý Sỹ chỉ ra là thiếu nhân viên y tế học đường chuyên trách, đặc biệt là những người có năng lực về dinh dưỡng, theo dõi tăng trưởng và quản lý sức khỏe trẻ em.
Theo ông, y tế học đường hiện vẫn còn tình trạng kiêm nhiệm, khiến việc xây dựng một chương trình chăm sóc sức khỏe học sinh có chiều sâu gặp nhiều khó khăn.
“Y tế học đường không thể chỉ làm nhiệm vụ sơ cứu hoặc xử lý những công việc hành chính liên quan đến sức khỏe học sinh. Cần xác định lại vị trí việc làm, tiêu chuẩn năng lực và mô hình sử dụng nhân lực y tế trong trường học”, ông đề xuất.
Nhân viên y tế học đường cần tham gia giám sát bếp ăn, phối hợp theo dõi chiều cao, cân nặng, chỉ số BMI, tình trạng dinh dưỡng, hoạt động thể chất và giấc ngủ của học sinh.
Cùng với đó, ngành giáo dục cần phối hợp ngành y tế tổ chức các chương trình đào tạo, cập nhật kiến thức về dinh dưỡng và an toàn thực phẩm cho đội ngũ này.
Theo Giáo sư, các trạm y tế, trung tâm y tế địa phương cũng cần chủ động phối hợp với trường học và chính quyền để kiểm tra định kỳ, đột xuất các bếp ăn bán trú; hỗ trợ chuyên môn khi phát hiện những vấn đề liên quan đến sức khỏe học sinh.
Một giải pháp quan trọng khác được GS.TSKH.BS. Dương Quý Sỹ đề xuất là xây dựng hệ thống quản trị sức khỏe học đường dựa trên dữ liệu số.
Theo ông, việc đo chiều cao, cân nặng mỗi năm là cần thiết nhưng chưa đủ. Nếu số liệu chỉ được ghi vào sổ mà không được phân tích, đánh giá và sử dụng để đưa ra các biện pháp can thiệp thì việc theo dõi sức khỏe mới dừng ở mức hành chính.
Mỗi học sinh cần có hồ sơ sức khỏe học đường điện tử xuyên suốt quá trình học tập. Hồ sơ có thể tích hợp những chỉ số cơ bản như chiều cao, cân nặng, BMI, biểu đồ tăng trưởng, tình trạng dinh dưỡng, mức độ vận động và thời gian ngủ.
Trên nền tảng dữ liệu đó, nhà trường và nhân viên y tế có thể phát hiện sớm những trường hợp trẻ tăng cân quá nhanh, suy dinh dưỡng, thấp còi hoặc có nguy cơ béo phì để tư vấn cho gia đình.
Giáo sư cho rằng chuyển đổi số cũng mở ra khả năng xây dựng hệ thống quản trị sức khỏe học đường thông minh, theo nguyên tắc đánh giá - can thiệp - phản hồi, thậm chí có thể ứng dụng các mô hình trí tuệ nhân tạo phù hợp để hỗ trợ nhận diện nguy cơ.
Tuy nhiên, ông lưu ý dữ liệu sức khỏe trẻ em là thông tin nhạy cảm, vì vậy việc số hóa phải đi kèm yêu cầu bảo mật và bảo vệ quyền riêng tư của học sinh.
Theo GS.TSKH.BS. Dương Quý Sỹ, giáo dục dinh dưỡng cho trẻ không nên chỉ dừng ở việc cung cấp kiến thức. Quan trọng hơn là hình thành kỹ năng và thói quen.
Nhà trường có thể tổ chức những hoạt động ngoại khóa như tham quan bếp ăn sạch, hướng dẫn học sinh nhận biết thực phẩm an toàn, tìm hiểu cách xây dựng một bữa ăn cân đối hoặc thực hành lựa chọn thực phẩm.
Trẻ cần được hướng dẫn cách đọc nhãn thực phẩm, nhận biết lượng đường trong đồ uống, hiểu thế nào là khẩu phần hợp lý và vì sao không nên ăn quá nhiều thức ăn nhanh, thực phẩm siêu chế biến.
“Cần chuyển từ mục tiêu dạy kiến thức dinh dưỡng tốt giúp sống khỏe sang hình thành kỹ năng dinh dưỡng khoa học giúp sống lâu”, Giáo sư chia sẻ.
Bên cạnh dinh dưỡng, học sinh cũng cần được giáo dục về vận động và giấc ngủ. Trong bối cảnh thiết bị số ngày càng phổ biến, trẻ cần hiểu tác hại của việc sử dụng điện thoại quá nhiều vào ban đêm và hình thành thói quen ngủ đúng giờ.
Theo Giáo sư, một chương trình giáo dục sức khỏe hiện đại phải giúp trẻ hiểu rằng ăn uống khoa học, vận động thường xuyên và ngủ đủ giấc là những hành vi có ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe hiện tại cũng như tương lai.
GS.TSKH.BS. Dương Quý Sỹ cho rằng sẽ khó tạo ra sự thay đổi nếu dinh dưỡng học đường vẫn bị xem là trách nhiệm riêng của gia đình.
Nhà trường phải chịu trách nhiệm tổ chức bữa ăn bán trú bảo đảm năng lượng, cân bằng dinh dưỡng và an toàn thực phẩm. Nhân viên y tế học đường phối hợp giám sát bếp ăn và theo dõi sức khỏe học sinh. Ngành y tế hỗ trợ chuyên môn. Chính quyền địa phương bảo đảm nguồn lực. Gia đình tham gia giám sát và điều chỉnh chế độ ăn của trẻ tại nhà.
Các tổ chức chính trị - xã hội cũng có thể đóng vai trò quan trọng trong truyền thông, nâng cao nhận thức của cha mẹ về dinh dưỡng trẻ em. Đặc biệt, theo Giáo sư, cần có chính sách ngân sách ưu tiên cho học sinh yếu thế. Trẻ em vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số và trẻ thuộc hộ nghèo cần được bảo đảm cơ hội tiếp cận bữa ăn học đường chất lượng.
“Không thể để chất lượng dinh dưỡng của trẻ phụ thuộc hoàn toàn vào điều kiện kinh tế của gia đình”, ông nhấn mạnh.
Từ góc độ Hội đồng Quốc gia Giáo dục và Phát triển nhân lực, GS.TSKH.BS. Dương Quý Sỹ kiến nghị cần xây dựng Chiến lược quốc gia về sức khỏe học đường giai đoạn 2026-2030, tầm nhìn 2045, dựa trên ba trụ cột dinh dưỡng - vận động - giấc ngủ.
Chiến lược này cần được triển khai liên ngành, gắn với giáo dục, y tế và chiến lược phát triển nguồn nhân lực quốc gia. Theo ông, sức khỏe thể chất và tinh thần của học sinh phải trở thành một trong những kết quả đầu ra của giáo dục, bên cạnh kiến thức, kỹ năng và năng lực.
“Nhà trường không chỉ có nhiệm vụ giúp trẻ học tốt mà còn phải giúp trẻ sống khỏe, sống có chất lượng và sống có trách nhiệm”, Giáo sư nói.
Nhìn rộng hơn, GS.TSKH.BS. Dương Quý Sỹ cho rằng đầu tư cho dinh dưỡng học đường cần được nhìn nhận dưới góc độ đầu tư phát triển. Một bữa ăn đủ chất có thể góp phần cải thiện sức khỏe của trẻ. Một môi trường vận động phù hợp giúp trẻ phát triển thể chất. Một giấc ngủ đủ giúp quá trình phát triển thần kinh và phục hồi cơ thể diễn ra tốt hơn. Khi những yếu tố này được bảo đảm trong nhiều năm, lợi ích không chỉ dừng ở tuổi học đường mà còn kéo dài đến tuổi trưởng thành.
Một thế hệ khỏe mạnh sẽ có nền tảng thể lực tốt hơn, khả năng học tập và lao động tốt hơn, từ đó góp phần nâng cao năng suất lao động và sức cạnh tranh của nền kinh tế. Chính vì vậy, theo Giáo sư, dinh dưỡng học đường không nên được xem là một khoản chi tiêu thường xuyên mà cần được nhìn nhận như một khoản đầu tư dài hạn cho con người.
“Trẻ em hôm nay chính là người làm chủ tương lai của đất nước. Nếu chúng ta muốn có nguồn nhân lực chất lượng cao vào năm 2045 thì phải bắt đầu đầu tư từ bây giờ, từ những bữa ăn, những giờ vận động và những giấc ngủ của trẻ”, ông nhấn mạnh.
Từ góc nhìn này, câu chuyện dinh dưỡng học đường cũng chính là câu chuyện về tầm vóc quốc gia. Khi mỗi đứa trẻ được tạo điều kiện để phát triển tối đa về thể chất, trí tuệ và tinh thần, xã hội sẽ có thêm một thế hệ công dân khỏe mạnh, năng động và có năng lực đóng góp.
GS.TSKH.BS. Dương Quý Sỹ cho rằng, nếu coi giáo dục là nền tảng phát triển con người thì dinh dưỡng học đường không thể tiếp tục được nhìn nhận như một dịch vụ hỗ trợ. Đầu tư cho một bữa ăn đủ chất, một giờ vận động đúng nghĩa và một giấc ngủ đủ thời gian của trẻ em hôm nay chính là đầu tư cho tầm vóc, trí tuệ, sức khỏe và năng lực cạnh tranh toàn diện của Việt Nam trong những năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2045.










