Đại biểu Quốc hội đề xuất “lằn ranh đỏ” trong hòa giải để bảo vệ phụ nữ, trẻ em
Đại biểu Lưu Thị Thúy Hằng (Đoàn ĐBQH tỉnh Phú Thọ) đề nghị xác lập rõ những trường hợp tuyệt đối không được đưa ra hòa giải, nhất là bạo lực gia đình, xâm hại trẻ em, mua bán người, nhằm tránh tình trạng “dĩ hòa vi quý” khiến nạn nhân tiếp tục bị tổn thương.
Sáng 10/8, thảo luận tại hội trường về dự án Luật Hòa giải ở cơ sở (sửa đổi), nhiều đại biểu quan tâm đến quy định về hòa giải trực tuyến, cơ chế bảo vệ người yếu thế và tổ chức hoạt động hòa giải ở cơ sở.
Tại phiên thảo luận về dự án Luật Hòa giải ở cơ sở (sửa đổi), đại biểu Lưu Thị Thúy Hằng cho rằng, việc sửa đổi luật là cần thiết để nâng cao hiệu quả giải quyết những mâu thuẫn, tranh chấp ngay từ cộng đồng. Tuy nhiên, bên cạnh việc phát huy vai trò của hòa giải, cần xác định rõ giới hạn để hoạt động này không bị sử dụng sai mục đích, đặc biệt trong những vụ việc liên quan đến phụ nữ, trẻ em và các nhóm yếu thế.
Không thể “hòa giải” bạo lực, xâm hại
Theo đại biểu Lưu Thị Thúy Hằng, dự thảo đã thể hiện nguyên tắc hòa giải không thay thế việc xử lý vi phạm hành chính hoặc xử lý hình sự. Tuy nhiên, quy định cần được thể hiện rõ ràng, thống nhất hơn để tránh cách hiểu và áp dụng khác nhau tại cơ sở.
“Thực tế có rất nhiều vụ việc như phụ nữ, trẻ em bị bạo hành, xâm hại nghiêm trọng nhưng chính quyền cơ sở lại đưa ra hòa giải với tư duy ‘dĩ hòa vi quý,’ ‘đóng cửa bảo nhau.’ Hậu quả để lại là kẻ bạo hành thoát tội mà nạn nhân lại tiếp tục chịu bạo hành và việc áp dụng các biện pháp bảo vệ khẩn cấp bị trì trệ," nữ đại biểu nhận định.
Đây là vấn đề đáng lo ngại bởi với những vụ việc có dấu hiệu vi phạm pháp luật nghiêm trọng, việc kéo dài thời gian để hòa giải không những không giải quyết được căn nguyên mà còn có thể khiến nạn nhân tiếp tục sống trong tình trạng mất an toàn.
“Lằn ranh đỏ” cần được xác định rõ, bởi hòa giải không thể trở thành lý do để trì hoãn việc xử lý người có hành vi bạo lực hoặc xâm hại. Khi quyền và sự an toàn của nạn nhân bị đe dọa, ưu tiên trước hết phải là bảo vệ nạn nhân và xử lý hành vi vi phạm theo quy định pháp luật.
Từ đó, đại biểu đề nghị dự thảo luật quy định rõ việc nghiêm cấm sử dụng hòa giải đối với các vụ việc bạo lực gia đình, xâm hại trẻ em, mua bán người; đồng thời không được lấy lý do hòa giải để trì hoãn các biện pháp tư pháp hoặc biện pháp bảo vệ cần thiết đối với nạn nhân.
Theo đại biểu, việc xác lập ranh giới này không làm giảm vai trò của hòa giải ở cơ sở, mà ngược lại giúp hoạt động hòa giải được thực hiện đúng mục đích, đúng phạm vi và bảo đảm tính nhân văn. Hòa giải cần hướng tới giải quyết những mâu thuẫn trong cộng đồng, chứ không thể được sử dụng để “xoa dịu” những hành vi xâm phạm nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của người khác.
Mở rộng nguồn hòa giải viên, phát huy người có uy tín
Một nội dung khác được đại biểu Lưu Thị Thúy Hằng quan tâm là tiêu chuẩn của hòa giải viên. Đại biểu đánh giá cao việc dự thảo có sự điều chỉnh theo hướng mở rộng hơn đối với những người thực sự sinh sống, làm việc và gắn bó với cộng đồng.
Tuy nhiên, đại biểu đề nghị cân nhắc việc sử dụng cụm từ “cư trú thường xuyên”, bởi pháp luật về cư trú hiện hành chủ yếu xác định nơi cư trú trên cơ sở thường trú và tạm trú, không có khái niệm “cư trú thường xuyên”. Nếu sử dụng thuật ngữ này, quá trình triển khai có thể phát sinh cách hiểu khác nhau.
Theo hướng đề xuất, hòa giải viên có thể được xác định là công dân Việt Nam cư trú tại cơ sở. Cách quy định này vừa bảo đảm thống nhất với pháp luật về cư trú, vừa tạo điều kiện mở rộng nguồn nhân lực có uy tín, năng lực và sự gắn bó thực tế với cộng đồng.
Đại biểu cũng đề nghị tiếp tục đơn giản hóa thủ tục công nhận hòa giải viên. Các quy định về trình tự, thời hạn, hồ sơ cần được hướng dẫn cụ thể, nhất là đối với trường hợp công nhận theo hình thức chỉ định. Cùng với đó là đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, giảm giấy tờ không cần thiết và thống nhất biểu mẫu trên toàn quốc.
Đáng chú ý, đại biểu đánh giá cao việc dự thảo bổ sung cơ chế mời những người có kinh nghiệm, kiến thức và uy tín trong cộng đồng tham gia hòa giải. Đây có thể là già làng, trưởng bản, chức sắc, chức việc, người có uy tín trong dòng họ, người có trình độ pháp lý hoặc có kinh nghiệm xã hội.
Theo đại biểu, việc huy động những nguồn lực này sẽ giúp các tổ hòa giải có thêm kinh nghiệm và góc nhìn để xử lý những vụ việc phức tạp. Tuy nhiên, việc lựa chọn người tham gia cần bảo đảm tính độc lập, khách quan và không có xung đột lợi ích với các bên liên quan.
Đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số, đại biểu đề nghị chú trọng hơn đến yếu tố ngôn ngữ, phong tục và đặc điểm văn hóa. Việc bố trí hòa giải viên là người dân tộc thiểu số hoặc có người phiên dịch là cần thiết, nhưng cũng cần bảo đảm sự phù hợp giữa người hòa giải với cộng đồng nơi xảy ra vụ việc.
Đại biểu đề nghị các cơ quan chức năng lồng ghép công tác hòa giải ở cơ sở với các chương trình mục tiêu quốc gia vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi; chú trọng đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ và hỗ trợ tài liệu bằng tiếng dân tộc./.











