15:35 06/11/2026

Nuôi con bằng sữa mẹ: Những rào cản ít được kể sau sinh

Nuôi con bằng sữa mẹ mang lại nhiều lợi ích cho sức khỏe của cả mẹ và bé, nhưng hành trình ấy không phải lúc nào cũng thuận lợi. Áp lực mưu sinh, thiếu kiến thức và kỹ năng cho con bú, định kiến gia đình hay môi trường làm việc chưa thân thiện đang khiến nhiều phụ nữ khó duy trì nguồn sữa mẹ. 

Khi hành trình nuôi con bằng sữa mẹ không như mong đợi

Nuôi con bằng sữa mẹ được xem là một trong những giải pháp quan trọng và hiệu quả nhằm phòng chống suy dinh dưỡng thấp còi, giảm nguy cơ bệnh tật và tử vong ở phụ nữ, trẻ em. Theo một nghiên cứu, nếu thực hành nuôi con bằng sữa mẹ được mở rộng đến mức gần như phổ cập trên toàn cầu, mỗi năm có thể phòng ngừa khoảng 823.000 ca tử vong ở trẻ dưới 5 tuổi và 20.000 ca tử vong do ung thư vú ở phụ nữ.

Với người mẹ, cho con bú giúp giảm nguy cơ mắc ung thư vú, ung thư buồng trứng, đái tháo đường, bệnh mạch vành, loãng xương và một số bệnh lý chuyển hóa. Với trẻ, sữa mẹ góp phần bảo vệ trước các bệnh nhiễm trùng như viêm phổi, tiêu chảy, đồng thời giảm nguy cơ thừa cân, béo phì và đái tháo đường. Nhiều nghiên cứu cũng ghi nhận mối liên hệ giữa việc bú mẹ với sự phát triển nhận thức của trẻ.

Dù vậy, thực tế tại Việt Nam, hành trình này còn nhiều trở ngại. Trên 50% bà mẹ chưa nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ trong 6 tháng đầu đời và trên 75% không tiếp tục cho con bú đến 24 tháng tuổi. Những con số này phản ánh khoảng cách giữa lợi ích đã được chứng minh của sữa mẹ và điều kiện thực tế để phụ nữ duy trì việc nuôi con bằng sữa mẹ.

6bff57d6-2868-40de-bb38-4
Nhiều phụ nữ phải đối mặt với áp lực từ công việc, gia đình, những lời khuyên thiếu căn cứ khoa học và cả cảm giác tội lỗi khi không thể cho con bú như mong muốn. 

Áp lực mưu sinh, thiếu kiến thức và những định kiến quanh dòng sữa mẹ

Theo TS.BS Hoàng Thị Đức Ngàn, phụ trách Khoa Dinh dưỡng Cộng đồng, Viện Dinh dưỡng, áp lực mưu sinh là một trong những nguyên nhân cần được quan tâm khi nói đến thực hành nuôi con bằng sữa mẹ. 

Nhiều phụ nữ, đặc biệt là lao động trong khu vực phi chính thức, lao động tự do và kinh doanh nhỏ, không được hưởng đầy đủ chế độ thai sản nên phải quay lại làm việc sớm, có trường hợp khi con mới 2-4 tháng tuổi.

“Khi thời gian chăm sóc con bị thu hẹp, người mẹ khó duy trì việc cho bú thường xuyên hoặc vắt sữa theo cữ. Trong khi đó, việc thiếu phòng vắt, trữ sữa và sự linh hoạt về thời gian tại nơi làm việc càng khiến phụ nữ khó tiếp tục nuôi con bằng sữa mẹ”, BS. Hoàng Thị Đức Ngàn chia sẻ.

Bên cạnh điều kiện lao động, hạn chế về kiến thức và kỹ năng cũng là rào cản đáng kể. Một số bà mẹ cho con bú sai tư thế, trẻ ngậm bắt vú không đúng khiến mẹ đau, nứt núm vú. Khi trẻ bú không hiệu quả, người mẹ dễ nghĩ mình bị ít sữa hoặc mất sữa, từ đó vội vàng bổ sung sữa công thức.

Trên thực tế, cảm giác thiếu sữa trong nhiều trường hợp có thể được cải thiện bằng cách điều chỉnh kỹ thuật cho bú. Tuy nhiên, nếu không được nhân viên y tế hướng dẫn, người mẹ có thể không nhận biết được nguyên nhân và cách khắc phục.

48339ea3-bd8c-4a8c-8510-218183269190
TS. Hoàng Thị Đức Ngàn, Phụ trách Khoa Dinh dưỡng cộng đồng, Viện Dinh dưỡng, Bộ Y tế. (Ảnh: VOV2)

Một yếu tố khác là quảng cáo, tiếp thị sữa công thức. Theo thông tin chuyên gia dẫn từ các báo cáo của Tổ chức Y tế thế giới (WHO), tại Việt Nam, một số thông điệp tiếp thị thiếu căn cứ khoa học như sữa công thức giúp trẻ cao hơn, thông minh hơn có thể tác động đến lựa chọn của các bà mẹ. Những thông điệp này dễ đánh trúng tâm lý lo lắng, nhất là ở phụ nữ lần đầu sinh con hoặc đang phải quay lại làm việc.

Ngoài ra, sự hỗ trợ từ gia đình và nơi làm việc cũng ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng duy trì nuôi con bằng sữa mẹ. Không ít phụ nữ mong muốn tiếp tục cho con bú nhưng thiếu người chia sẻ việc nhà, chăm sóc trẻ; không có điều kiện nghỉ ngơi hoặc vắt trữ sữa. Một số người còn phải đối mặt với những quan niệm sai lầm như sữa mẹ loãng là không đủ chất, trẻ bú mẹ sẽ chậm tăng cân hoặc mẹ phải ăn thật nhiều mới có sữa.

Muốn mẹ duy trì nguồn sữa, cần cả một hệ sinh thái hỗ trợ

Theo TS.BS Hoàng Thị Đức Ngàn, việc một đứa trẻ có được bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu hay không thực chất phản ánh chất lượng của cả hệ sinh thái hỗ trợ xung quanh người mẹ, chứ không chỉ phụ thuộc vào ý chí của riêng người phụ nữ.

"Gia đình là điểm tựa gần gũi nhất. Người chồng và các thành viên cần chia sẻ việc nhà, cùng chăm sóc trẻ để mẹ có thời gian nghỉ ngơi, phục hồi sức khỏe và cho con bú. Thay vì gây áp lực khi mẹ ít sữa, gia đình nên động viên, đồng hành và cùng tìm đến tư vấn chuyên môn", bà Ngàn nhấn mạnh.

Cùng với đó, cơ sở y tế giữ vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ người mẹ ngay từ thời điểm sinh con. Các bệnh viện cần thực hiện da kề da, hỗ trợ trẻ bú mẹ sớm trong giờ đầu sau sinh; hướng dẫn tư thế và kỹ thuật ngậm bắt vú đúng; tư vấn cách xử lý những vấn đề thường gặp như tắc tia sữa, đau núm vú, trẻ bú kém. Việc tư vấn cần được duy trì trong suốt hành trình nuôi con, thay vì chỉ tập trung ở những ngày đầu sau sinh.

Đồng thời, cần thực hiện nghiêm các quy định về kiểm soát quảng cáo, tiếp thị sản phẩm thay thế sữa mẹ trong cơ sở y tế, giúp phụ nữ tiếp cận thông tin khách quan và có căn cứ khoa học. 

Ở môi trường lao động, người sử dụng lao động cần tạo điều kiện để phụ nữ nuôi con nhỏ có thời gian cho con bú hoặc vắt, trữ sữa; bố trí không gian phù hợp và sắp xếp công việc linh hoạt trong khả năng cho phép. Đây không chỉ là sự hỗ trợ dành cho người mẹ mà còn góp phần bảo vệ sức khỏe trẻ em.

Về phía chính sách, bà Ngàn cho rằng cần tiếp tục hoàn thiện và thực thi các quy định về chế độ thai sản, kiểm soát tiếp thị sản phẩm thay thế sữa mẹ theo Nghị định 100; đồng thời mở rộng các chính sách an sinh cho lao động phi chính thức. Những nội dung này cần được lồng ghép trong Chiến lược Quốc gia về Dinh dưỡng và các chương trình chăm sóc dinh dưỡng trong 1.000 ngày đầu đời.

Nuôi con bằng sữa mẹ là hành trình cần sự kiên trì, nhưng không nên trở thành cuộc thử sức mà người mẹ phải tự mình vượt qua./.