PGS.TS Lê Hoành Sử: Khi công nghệ “chiều” con hơn cha mẹ
Ngọc Minh
Trẻ em hôm nay lớn lên cùng Internet, mạng xã hội, trò chơi trực tuyến và các công cụ trí tuệ nhân tạo (AI). Mỗi lần trẻ tìm kiếm một thông tin, xem một video, bấm thích, dừng lại trước một nội dung hay trò chuyện với chatbot, những hành vi tưởng như rất nhỏ ấy đều có thể trở thành dữ liệu.
Từ những dữ liệu đó, công nghệ ngày càng có khả năng nhận diện sở thích, thói quen và xu hướng hành vi của người dùng.
Vậy công nghệ thực sự có thể hiểu về trẻ đến đâu? Dữ liệu đang nói gì về một đứa trẻ? Và làm thế nào để công nghệ trở thành công cụ hỗ trợ sự phát triển của trẻ thay vì âm thầm định hình trẻ?
PGS.TS Lê Hoành Sử – Trưởng khoa Hệ thống thông tin, Trường Đại học Kinh tế - Luật, ĐHQG-HCM, chuyên gia có hướng nghiên cứu về phân tích dữ liệu lớn, phân tích kinh doanh, AI và ra quyết định dựa trên dữ liệu, đã có những phân tích, đánh giá để cùng nhìn nhận câu chuyện trẻ em trong thế giới công nghệ dưới góc độ dữ liệu và hành vi.
PGS.TS Lê Hoành Sử hiện là Trưởng khoa Hệ thống Thông tin, Trường Đại học Kinh tế - Luật, Đại học Quốc gia TP. HCM.
Những hành vi tưởng như rất nhỏ của trẻ trên môi trường số có thể trở thành những mảnh ghép dữ liệu có giá trị. Nhưng điều đáng quan tâm hơn là bằng cách nào những mảnh ghép ấy được công nghệ thu thập, kết nối và phân tích để tạo nên một bức tranh về đứa trẻ.
PV: Ngày nay, một đứa trẻ có thể sử dụng YouTube, TikTok, Google, trò chơi trực tuyến hay các ứng dụng AI mỗi ngày. Từ góc độ dữ liệu, những hoạt động tưởng như rất bình thường đó có thể tiết lộ những gì về một đứa trẻ?
PGS.TS Lê Hoành Sử: Những thao tác rất bình thường ấy có thể để lộ nhiều lớp thông tin: trẻ quan tâm điều gì, đang học ở mức nào, thường trực tuyến vào thời điểm nào, kiên nhẫn với một nội dung bao lâu, hay tương tác với nhóm bạn nào và phản ứng trước loại thông tin nào.
Khi được theo dõi trong thời gian dài, dữ liệu còn có thể gợi ý nhịp sinh hoạt, xu hướng cảm xúc hoặc những thay đổi bất thường trong hành vi. Tuy nhiên, cần nhấn mạnh rằng đây chủ yếu là các dấu hiệu xác suất. Một lần xem video về nỗi buồn không có nghĩa trẻ đang trầm cảm; một lượt tìm kiếm về bạo lực cũng không đủ để kết luận về nhân cách.
Giá trị và rủi ro xuất hiện khi rất nhiều dấu vết nhỏ được ghép lại, lưu giữ lâu và sử dụng ngoài mục đích ban đầu mà trẻ hoặc cha mẹ không nhận biết đầy đủ.
PV: Khi một nền tảng liên tục ghi nhận trẻ xem nội dung gì, tìm kiếm gì, tương tác với ai và dành bao nhiêu thời gian cho một nội dung, liệu từ những dữ liệu đó công nghệ có thể hình thành một “chân dung số” tương đối rõ về đứa trẻ?
PGS.TS Lê Hoành Sử: Theo tôi nghĩ là có. Từ lịch sử xem, từ khóa tìm kiếm, thời lượng dừng, lượt bỏ qua, vị trí, thiết bị và mạng lưới tương tác, nền tảng có thể tạo ra một chân dung số khá chi tiết để dự đoán nội dung nào dễ giữ trẻ ở lại, quảng cáo nào có khả năng tác động hoặc thời điểm nào trẻ dễ phản hồi.
Nhưng chân dung ấy không phải là một bức ảnh trung thực và cố định về đứa trẻ. Nó là hồ sơ suy đoán được tạo từ dữ liệu trong một bối cảnh nhất định. Trẻ có thể xem một nội dung vì bài tập, vì bạn bè gửi, hoặc chỉ vì tò mò nhất thời. Nếu hệ thống bỏ qua bối cảnh, chân dung số dễ trở thành một chiếc nhãn sai.
Vì vậy, phụ huynh cần quan tâm không chỉ nền tảng thu thập gì, mà còn dữ liệu ấy được dùng để suy luận điều gì và có thể được chia sẻ cho ai.
PV: Có những điều cha mẹ chỉ nhận ra sau một thời gian rất dài, nhưng thuật toán có thể nhận diện từ hàng trăm, hàng nghìn hành vi nhỏ của trẻ. Vậy công nghệ có thực sự đang “hiểu” trẻ nhiều hơn cha mẹ, hay đây chỉ là cách chúng ta đang nhìn nhận quá mức về khả năng của AI?
PGS.TS Lê Hoành Sử: Nói công nghệ “hiểu” trẻ nhiều hơn cha mẹ là cách diễn đạt gây chú ý, nhưng chưa thật chính xác. Thuật toán có lợi thế về quy mô và tốc độ: nó ghi nhớ hàng nghìn tín hiệu nhỏ, phát hiện một mô hình lặp lại và đôi khi nhận ra sự thay đổi sớm hơn người lớn.
Song phát hiện mô hình không đồng nghĩa với hiểu nguyên nhân. AI có thể thấy trẻ thức khuya, xem liên tục một chủ đề hoặc giảm tương tác, nhưng không biết chắc đó là áp lực học tập, mâu thuẫn với bạn, một niềm say mê mới hay chỉ là một giai đoạn ngắn.
Cha mẹ có khả năng đặt câu hỏi, lắng nghe, liên hệ với hoàn cảnh gia đình và chịu trách nhiệm cho quyết định của mình. Do đó, dữ liệu có thể là tín hiệu cảnh báo hữu ích, nhưng không nên được xem là phán quyết về một đứa trẻ.
PV: Nếu cha mẹ hiểu con thông qua những cuộc trò chuyện, quan sát và thời gian đồng hành, còn thuật toán hiểu trẻ thông qua hàng nghìn điểm dữ liệu, hai cách “hiểu một đứa trẻ” này khác nhau như thế nào?
PGS.TS Lê Hoành Sử: Thuật toán hiểu bằng sự tương quan: trẻ thường xem gì, vào lúc nào, sau đó bấm vào đâu và hành vi nào lặp lại. Cha mẹ hiểu con bằng quan hệ: một câu nói hôm nay có liên quan thế nào đến tính cách, hoàn cảnh, ký ức, giá trị và những điều con chưa nói ra.
Cách thứ nhất có thể rộng và rất nhanh, nhưng thiếu ý nghĩa sống và trách nhiệm đạo đức, cũng như bị phiến diễn chỉ là hành vi của trẻ trên môi trường số. Cách thứ hai có thể không ghi nhận được mọi tín hiệu, nhưng có sự đồng cảm, đối thoại, đa dạng bối cảnh trong cuộc sống và khả năng cùng con thay đổi.
Tôi cho rằng không nên đặt hai cách hiểu này vào một cuộc thi. Công nghệ nên đóng vai trò như một cảm biến hỗ trợ người lớn nhận ra điều cần quan tâm. Việc giải thích tín hiệu, đưa ra quyết định và đồng hành với trẻ vẫn phải thuộc về con người và cần đặt trong bối cảnh đầy đủ hơn trước, hết là cha mẹ và thầy cô giáo.
PGS.TS Lê Hoành Sử chia sẻ 2 cách về thuật toán của trí tuệ nhân tạo
Khi công nghệ không chỉ ghi nhận những gì trẻ đã làm mà còn có khả năng dự đoán những gì trẻ có thể quan tâm tiếp theo, dữ liệu lúc này không còn đơn thuần là những con số. Nó có thể trở thành một phần trong quá trình định hình trải nghiệm số của trẻ.
PV: Vì sao những dữ liệu rất nhỏ như một lượt tìm kiếm, một video được xem lại nhiều lần hay khoảng thời gian trẻ dừng trước một nội dung lại có giá trị đối với các hệ thống phân tích dữ liệu?
PGS.TS Lê Hoành Sử: Một điểm dữ liệu riêng lẻ thường rất ít ý nghĩa. Giá trị xuất hiện khi hệ thống quan sát được chuỗi hành vi và so sánh chuỗi đó với nhiều mẫu khác. Việc trẻ xem lại một video có thể cho thấy mức độ quan tâm; thời gian dừng có thể gợi ý nội dung gây chú ý; tốc độ lướt qua có thể phản ánh sự không phù hợp.
Khi các tín hiệu này lặp lại theo thời gian, hệ thống có thể ước tính sở thích, khả năng tập trung hoặc xác suất thực hiện hành động tiếp theo.
Dữ liệu nhỏ còn có ưu thế là được tạo ra liên tục và thường phản ánh hành vi thực tế hơn câu trả lời trong một bảng khảo sát. Tuy nhiên, hệ thống cũng có thể nhầm sự tò mò nhất thời với sở thích lâu dài. Vì thế, dự đoán phải luôn được hiểu là xác suất có giới hạn, không phải kết luận về năng lực hay nhân cách của trẻ.
PV: Khi các dữ liệu rời rạc được kết hợp và phân tích bằng AI, liệu hệ thống có thể không chỉ biết trẻđã làm gì, mà còn dự đoán trẻ có thể sẽ làm gì tiếp theo?
PGS.TS Lê Hoành Sử: Đúng vậy, AI có thể dự đoán hành vi tiếp theo ở một mức độ nhất định. Chẳng hạn, hệ thống có thể ước tính trẻ sẽ xem tiếp chủ đề nào, rời ứng dụng lúc nào hoặc phản hồi với kiểu thông báo nào.
Nhưng đó là dự đoán dựa trên quá khứ và những người có mô hình tương tự, chứ không phải biết trước tương lai của một cá nhân.
Điều đáng lưu ý là dự đoán có thể tự củng cố: hệ thống cho trẻ xem nhiều hơn những gì nó tin trẻ sẽ thích, trẻ tiếp tục tương tác, rồi dữ liệu mới lại khiến hệ thống tin mạnh hơn vào nhận định ban đầu. Vòng lặp này có thể thu hẹp trải nghiệm và khiến sở thích nhất thời trở nên bền hơn. Vì vậy, nền tảng cần tạo cơ chế lựa chọn và làm mới đề xuất; gia đình, nhà trường cần giúp trẻ chủ động tìm kiếm thay vì chỉ đi theo luồng nội dung tự động vô tình đang đẩy trẻ vào sở thích và hành vi vốn không phải là từ phát triển tự nhiên của trẻ.
PV: Một đứa trẻ có thể chưa đủ khả năng nhận thức đầy đủ về giá trị của dữ liệu cá nhân mà mình đang để lại trên Internet. Theo ông, đâu là điểm đáng lưu ý nhất khi dữ liệu hành vi của trẻ được các nền tảng công nghệ thu thập và phân tích?
PGS.TS Lê Hoành Sử: Điểm đáng lưu ý nhất là sự bất cân xứng. Trẻ tạo ra dữ liệu mỗi ngày nhưng chưa đủ khả năng hiểu dữ liệu ấy sẽ được lưu bao lâu, kết hợp với nguồn nào và dùng cho mục đích gì trong tương lai.
Một hồ sơ hành vi được lập quá sớm có thể gắn trẻ với những nhãn như “thiếu tập trung”, “dễ bị tác động” hoặc “quan tâm đến chủ đề X”, trong khi trẻ vẫn đang phát triển và thay đổi nhanh. Nếu các nhãn này được dùng để cá nhân hóa nội dung, quảng cáo hoặc đánh giá cơ hội, chúng có thể làm hẹp quyền được thử nghiệm và trưởng thành của trẻ.
Do đó, dữ liệu trẻ em cần được thu ở mức tối thiểu, nêu rõ mục đích, giới hạn thời gian lưu giữ, cho phép xóa và không sử dụng cho quyết định quan trọng nếu thiếu sự kiểm tra của con người.
TÁC ĐỘNG – KHI CÔNG NGHỆ KHÔNG CHỈ HIỂU MÀ CÒN CÓ THỂ ĐỊNH HÌNH TRẺ
PV: Các thuật toán đề xuất nội dung thường dựa trên những gì người dùng từng xem và tương tác. Với trẻ em, việc liên tục được đề xuất những nội dung phù hợp với sở thích có thể ảnh hưởng như thế nào đến cách trẻ tiếp nhận thông tin và hình thành sở thích?
PGS.TS Lê Hoành Sử: Đề xuất phù hợp giúp trẻ tìm tài liệu nhanh hơn và có thể khơi gợi một hứng thú học tập. Mặt trái là trẻ dễ bị đặt trong một thực đơn ngày càng giống nhau. Khi liên tục được xem nội dung hợp ý, trẻ ít gặp ý kiến khác, ít phải kiên nhẫn với điều mới và có thể nhầm nội dung xuất hiện nhiều với nội dung đáng tin.
Sở thích khi đó không chỉ được phát hiện mà còn được khuếch đại. Đối với sự sáng tạo, trẻ cần cả những trải nghiệm chưa quen thuộc, hoạt động bằng tay, giao tiếp trực tiếp và cơ hội tự đặt câu hỏi.
Cha mẹ và giáo viên có thể cùng trẻ xem vì sao một nội dung được đề xuất, chủ động tìm một nguồn trái chiều, tắt phát tự động khi phù hợp và duy trì thời gian cho đọc sách, thể thao, STEM, Robotics hoặc nghệ thuật ngoài màn hình - PGS.TS Lê Hoành Sử chia sẻ
PV: Có một câu hỏi được nhiều phụ huynh quan tâm: trẻ đang sử dụng công nghệ, hay công nghệ đang dần định hình cách trẻ suy nghĩ, lựa chọn và tiêu thụ thông tin? Theo ông, ranh giới này nằm ở đâu?
PGS.TS Lê Hoành Sử: Ranh giới nằm ở mức độ chủ động của trẻ. Nếu trẻ mở công cụ với một mục tiêu rõ ràng, biết mình cần tìm gì, có thể dừng lại, kiểm tra nguồn và tự quyết định bước tiếp theo, công nghệ đang phục vụ trẻ.
Nếu luồng đề xuất quyết định trẻ xem gì tiếp, thời gian sử dụng kéo dài ngoài dự định, cảm xúc bị chi phối bởi lượt thích hoặc trẻ chỉ lặp lại câu trả lời của AI mà không còn tự suy nghĩ, công nghệ đang dần định hình trẻ. Ranh giới này không cố định theo số phút sử dụng; nó phụ thuộc vào độ tuổi, mục đích và khả năng tự kiểm soát.
Người lớn nên chuyển từ câu hỏi “con dùng bao lâu” sang thêm các câu hỏi “con dùng để làm gì, con đã tạo ra điều gì, con kiểm chứng ra sao và sau khi dùng con cảm thấy thế nào, con thấy nó hay chỗ nào, chỗ nào chưa hay”.
PV: Khi trẻ chưa đủ khả năng hiểu hết giá trị của dữ liệu cá nhân, nhưng những dữ liệu đó có thể tồn tại và tiếp tục được xử lý trong thời gian dài, điều này đặt ra những nguy cơ gì đối với quyền riêng tư và sự phát triển lâu dài của trẻ?
PGS.TS Lê Hoành Sử:
Nguy cơ trước hết là mất quyền kiểm soát: dữ liệu có thể bị chia sẻ, rò rỉ, tái nhận dạng hoặc dùng cho một mục đích mà gia đình chưa từng đồng ý.
Nguy cơ thứ hai là thao túng hành vi thông qua quảng cáo và nội dung được cá nhân hóa đúng lúc trẻ dễ bị tác động. Về lâu dài, một hồ sơ cũ có thể theo trẻ trong khi chính đứa trẻ đã thay đổi, từ đó ảnh hưởng đến cách hệ thống đánh giá sở thích, năng lực hoặc mức độ rủi ro.
Trẻ cũng có thể tự kiểm duyệt, không dám tìm hiểu hoặc thử nghiệm vì cảm giác luôn bị quan sát. Quyền riêng tư của trẻ vì vậy không chỉ là giữ bí mật thông tin.
Đó còn là quyền được thay đổi, được quên và không bị quá khứ số quyết định cơ hội trong tương lai.
Công nghệ có thể ghi nhận những gì trẻ xem, tìm kiếm, tương tác và quan tâm. Nhưng điều đó không có nghĩa cha mẹ phải đứng ngoài cuộc hoặc tìm cách tách con khỏi thế giới số.
Trong một thế giới mà thuật toán ngày càng tinh vi, có lẽ điều trẻ cần không phải là một tuổi thơ hoàn toàn không có công nghệ, mà là những người lớn đủ hiểu biết để giúp các em sử dụng công nghệ một cách an toàn, có trách nhiệm và vẫn giữ được quyền riêng tư, khả năng tự quyết cùng một thế giới riêng của mình.
Vậy cha mẹ cần bắt đầu từ đâu? Đâu là những nguyên tắc cần thiết để bảo vệ dữ liệu và đời sống riêng tư của trẻ trên môi trường số?
PV: Trước thực tế trẻ không thể tách khỏi môi trường số, cha mẹ nên bắt đầu từ đâu để vừa cho con tiếp cận công nghệ, vừa bảo vệ dữ liệu và quyền riêng tư của trẻ?
PGS.TS Lê Hoành Sử: Cha mẹ nên bắt đầu bằng việc cùng con lập một “bản đồ số” đơn giản: con đang dùng ứng dụng nào, ứng dụng xin quyền truy cập gì, dữ liệu nào thật sự cần thiết và ai có thể xem. Sau đó, gia đình có thể chọn cài đặt riêng tư cao, tắt quyền vị trí, micro hoặc danh bạ khi không cần, dùng tài khoản phù hợp độ tuổi, mật khẩu mạnh và xác thực hai bước.
Quan trọng hơn, mỗi ứng dụng mới nên đi kèm một cuộc trò chuyện ngắn về lợi ích, rủi ro và quy tắc sử dụng. Với trẻ nhỏ, cha mẹ cần dùng cùng và kiểm soát chặt hơn; khi trẻ lớn, chuyển dần sang thỏa thuận và tự quản có giám sát.
Mục tiêu không phải tạo ra một vùng cấm công nghệ, mà giúp trẻ biết lựa chọn công cụ, hiểu cái giá của sự tiện lợi và tìm người lớn khi gặp tình huống bất thường.
PV:Có nên dạy trẻ về dữ liệu cá nhân từ sớm, tương tự như cách cha mẹ dạy trẻ không nói chuyện với người lạ hay không chia sẻ thông tin riêng tư với người khác? Nếu có, trẻ cần được trang bị những kiến thức cơ bản nào?
PGS.TS Lê Hoành Sử: Nên dạy từ sớm, bằng ngôn ngữ phù hợp với từng độ tuổi. Trẻ cần biết dữ liệu cá nhân không chỉ là họ tên, địa chỉ hay số điện thoại, mà còn gồm hình ảnh, giọng nói, vị trí, trường học, thói quen, tài khoản và lịch sử tương tác.
Trẻ cần hiểu bốn điều cơ bản: thông tin đã đăng có thể được sao chép; chỉ chia sẻ khi biết rõ người nhận và mục đích; phải xin phép trước khi đăng hình hoặc thông tin của người khác; khi bị yêu cầu giữ bí mật, gửi ảnh riêng tư, nhấp đường dẫn lạ hoặc cung cấp mã đăng nhập thì phải dừng lại và báo người lớn.
Cùng với đó là kỹ năng dùng mật khẩu riêng cho từng tài khoản, xác thực hai bước, nhận biết lừa đảo và kiểm tra câu trả lời của AI. Đây là kỹ năng an toàn cơ bản của công dân số.
PGS.TS Lê Hoành Sử nêu các bước bảo mật thông tin trẻ em trên nền tảng số
PV:Theo ông, thay vì chỉ đặt ra những quy định kiểu “không được dùng điện thoại”, cha mẹ cần làm gì để trẻ hiểu vì sao mình phải bảo vệ dữ liệu, kiểm soát thông tin và có trách nhiệm với dấu chân số của chính mình?
PGS.TS Lê Hoành Sử: Một lệnh cấm có thể chặn hành vi trước mắt nhưng hiếm khi tạo ra năng lực tự bảo vệ. Cha mẹ nên giải thích rủi ro bằng tình huống cụ thể, cùng con xây dựng quy ước gia đình và định kỳ xem lại cài đặt, lịch sử quyền truy cập hoặc những nội dung đã công khai. Khi có sai sót, hãy hướng dẫn trẻ gỡ nội dung, đổi mật khẩu, báo cáo tài khoản và rút kinh nghiệm, thay vì làm trẻ sợ đến mức che giấu.
Người lớn cũng phải làm gương, đặc biệt không tự ý đăng ảnh, thành tích hay câu chuyện riêng tư của con. Qua nhiều năm giảng dạy STEM và Robotics, trong đó có chương trình UBTech, tôi nhận thấy trẻ phát triển trách nhiệm tốt nhất khi được thiết kế, thử, sai, sửa và giải thích lựa chọn của mình.
Với AI cũng vậy: hãy yêu cầu trẻ nêu ý tưởng trước, dùng AI để tham khảo, rồi tự kiểm chứng và tạo ra sản phẩm của chính mình. - PGS.TS Lê Hoành Sử nhấn mạnh
GÓC NHÌN – CÔNG NGHỆ HIỂU TRẺ, NHƯNG AI GIÚP TRẺ HIỂU CHÍNH MÌNH?
Thuật toán có thể nhận ra một đứa trẻ thích gì, thường xem nội dung nào, tìm kiếm điều gì và dành bao nhiêu thời gian trước màn hình. Công nghệ ngày càng có khả năng nhận diện những dấu vết rất nhỏ trong hành vi của trẻ.
Nhưng giữa rất nhiều dữ liệu ấy, có một điều máy móc vẫn khó có thể trả lời: Một đứa trẻ thực sự đang cảm thấy gì? Em muốn trở thành ai? Điều gì khiến em hạnh phúc, sợ hãi hay tổn thương?
PV:Công nghệ có thể phân tích hàng triệu dữ liệu để tìm ra một xu hướng hành vi, nhưng liệu AI có thể thực sự hiểu những điều sâu xa như cảm xúc, hoàn cảnh gia đình, những tổn thương hay ước mơ của một đứa trẻ?
PGS.TS Lê Hoành Sử: AI hay chính xác hơn là trí tuệ nhân tạo có thể nhận diện dấu hiệu liên quan đến cảm xúc qua từ ngữ, giọng nói, hình ảnh hoặc nhịp sử dụng, nhưng không thể mặc nhiên xem đó là sự thấu hiểu.
Cùng một sự im lặng có thể là buồn, mệt, tập trung hoặc đơn giản là không muốn nói. Hoàn cảnh gia đình, ký ức, tổn thương và ước mơ chỉ có ý nghĩa khi được đặt trong câu chuyện của chính đứa trẻ. AI không có trải nghiệm sống chung với trẻ, không cảm nhận được đầy đủ bối cảnh và cũng không chịu trách nhiệm đạo đức như cha mẹ, giáo viên hay chuyên gia tâm lý.
Công nghệ có thể hỗ trợ sàng lọc hoặc gợi ý một dấu hiệu cần chú ý, nhưng các vấn đề nhạy cảm không được quyết định chỉ bằng điểm số của thuật toán. Luôn cần đối thoại trực tiếp, đánh giá chuyên môn khi cần và quyền được trẻ giải thích về chính mình.
PV:Có lẽ câu hỏi cuối cùng không phải là “AI hiểu trẻ đến đâu?”, mà là “cha mẹ có đang dành đủ thời gian để hiểu con trước khi công nghệ hiểu con thay mình hay không?”
Nếu gửi một thông điệp ngắn đến các bậc cha mẹ đang nuôi con trong thời đại AI và dữ liệu, ông muốn nhắn gửi điều gì?
PGS.TS Lê Hoành Sử: Cha mẹ không cần cạnh tranh với thuật toán về khả năng ghi nhớ từng cú nhấp. Điều con cần là một người lớn dành thời gian để hỏi, lắng nghe và giúp con hiểu ý nghĩa đằng sau những gì đang diễn ra.
Hãy dùng công nghệ cùng con, khuyến khích con tạo ra sản phẩm thay vì chỉ tiêu thụ nội dung, và dạy con rằng AI là công cụ hỗ trợ chứ không phải nơi giao phó suy nghĩ hay quyết định.
Đồng thời, hãy bảo vệ dữ liệu và quyền được thay đổi của trẻ. Khi gia đình giữ được đối thoại, nhà trường nuôi dưỡng tư duy phản biện, doanh nghiệp thiết kế có trách nhiệm và cơ quan quản lý giám sát hiệu quả, công nghệ có thể mở rộng năng lực sáng tạo mà không lấy đi sự tự chủ của trẻ.
Thông qua những chia sẻ của PGS.TS Lê Hoành Sử, có thể thấy công nghệ đang ngày càng có khả năng nhận diện và phân tích hành vi của trẻ thông qua dữ liệu. Nhưng dữ liệu dù nhiều đến đâu cũng không thể thay thế sự thấu hiểu đến từ tình yêu thương, sự quan sát và những cuộc trò chuyện giữa cha mẹ với con.
Một thuật toán có thể biết trẻ xem gì, thích gì và thường làm gì; nhưng để hiểu một đứa trẻ đang nghĩ gì, cần gì và muốn trở thành người như thế nào, có lẽ vẫn cần một con người thật sự lắng nghe.
Trong kỷ nguyên AI, điều cha mẹ cần bảo vệ cho trẻ không chỉ là dữ liệu cá nhân, mà còn là quyền được lớn lên, được lựa chọn và được tự mình khám phá mình là ai.