06:39 01/09/2026

Bảo vệ quyền trẻ em: Từ nhận thức đến thực thi pháp luật trong kỷ nguyên số 

Trẻ em ngày nay phải đối diện với nhiều rủi ro trên không gian mạng. TS. LS Đặng Văn Cường - Ủy viên Ban Chấp hành Hội Bảo vệ quyền trẻ em Việt Nam cho rằng, việc thiếu dữ liệu đồng bộ, cơ chế cảnh báo sớm và kỹ năng số cho trẻ em đang tạo ra những khoảng trống đáng lo ngại trong hệ thống bảo vệ trẻ em hiện nay.

Luật sư Cường

Nhận thức về quyền trẻ em và thực trạng đáng báo động

PV: Luật Trẻ em quy định rất nhiều quyền cơ bản của trẻ em, trong đó có quyền được bảo vệ khỏi mọi hình thức bạo lực, xâm hại. Theo ông, hiện nay nhận thức của gia đình và xã hội về các quyền này đã đầy đủ hay chưa?

TS. LS Đặng Văn Cường: Theo tôi, mặc dù Luật Trẻ em đã quy định khá đầy đủ các quyền cơ bản của trẻ em, trong đó có quyền được bảo vệ khỏi mọi hình thức bạo lực, xâm hại, nhưng thẳng thắn nhìn nhận thì nhận thức của một bộ phận gia đình và xã hội hiện nay vẫn chưa thực sự đầy đủ và thống nhất. Sự thiếu hụt này thể hiện rõ qua ba khía cạnh lớn:

Thứ nhất, nhiều bậc cha mẹ hiện nay vẫn còn bị đè nặng bởi những định kiến cũ như “thương cho roi cho vọt”. Họ xem con cái là "tài sản riêng" và việc đánh mắng là quyền dạy con của gia đình. Sự thiếu hiểu biết về quyền trẻ em, lệch lạc trong phương pháp giáo dục, cộng với việc không kiểm soát được cảm xúc đã dẫn đến những vụ bạo hành nghiêm trọng, thậm chí dẫn đến tử vong gây phẫn nộ dư luận thời gian qua. Họ không nhận thức được rằng, trẻ em là đối tượng yếu thế, chưa phát triển đầy đủ về thể chất, tinh thần và pháp luật nghiêm cấm mọi hành vi sử dụng bạo lực trong giáo dục.

Thứ hai, thực tế cho thấy không phải ai cũng nhận thức đầy đủ rằng bảo vệ trẻ em không chỉ là trách nhiệm đạo đức mà còn là nghĩa vụ pháp lý. Theo quy định của pháp luật, cha mẹ, người giám hộ, thầy cô giáo và các cơ sở giáo dục đều có trách nhiệm chăm sóc, bảo vệ và giáo dục trẻ em. Chính vì trẻ em là đối tượng yếu thế, chưa có khả năng tự bảo vệ mình nên pháp luật đặt ra những yêu cầu rất nghiêm ngặt đối với người có trách nhiệm nuôi dưỡng, đồng thời quy định các chế tài xử lý nghiêm khắc đối với hành vi bạo hành, xâm hại trẻ em.

Ảnh 1
Tháng hành động vì trẻ em năm 2026 diễn ra từ ngày 01/6/2026 đến ngày 30/6/2026 với chủ đề: “Trẻ em hạnh phúc, an toàn, vững bước trong kỷ nguyên số”. (Ảnh: Tạp chí Trẻ em Việt Nam)

Theo đó, tùy theo tính chất và mức độ hậu quả, các hành vi bạo hành trẻ em hoàn toàn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Người vi phạm có thể đối mặt với mức án từ 3 năm đến 5 năm tù về tội Hành hạ người khác hoặc tội Hành hạ con cháu theo Điều 140 và Điều 185 Bộ luật Hình sự. 

Nếu hành vi mang tính chất cố ý gây thương tích, sử dụng hung khí tấn công trẻ em, hình phạt có thể lên đến 20 năm tù hoặc tù chung thân. Thậm chí, trong trường hợp cố tình tước đoạt mạng sống của trẻ, người phạm tội phải đối mặt với khung hình phạt cao nhất là tử hình theo Điều 123 về tội Giết người. 

Pháp luật cũng quy định rất rõ, phạm tội đối với người dưới 16 tuổi, đặc biệt khi người phạm tội lại là người có nghĩa vụ chăm sóc, giáo dục các em, thì đó là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Rõ ràng, chế tài của chúng ta không hề thiếu tính răn đe, nhưng ý thức thượng tôn pháp luật của một bộ phận người lớn vẫn còn quá kém.

Mặt khác, một mắt xích cực kỳ đáng lo ngại khiến tình trạng này vẫn diễn biến phức tạp chính là sự thờ ơ, vô cảm của cộng đồng và những người xung quanh. Tâm lý “đèn nhà ai nhà nấy rạng” khiến nhiều người khi chứng kiến hoặc nghi ngờ trẻ em bị xúc phạm, bị đánh đập vẫn lựa chọn im lặng vì xem đó là chuyện riêng của gia đình người khác. 

Thực tế, chúng ta đã có Tổng đài quốc gia bảo vệ trẻ em 111 hoạt động rất hiệu quả trong việc tiếp nhận thông tin và can thiệp khẩn cấp. Tuy nhiên, do nhận thức về trách nhiệm bảo vệ trẻ em trong cộng đồng còn hạn chế, nhiều người dù nghe tiếng trẻ khóc hay phát hiện dấu hiệu bất thường vẫn không chủ động trình báo cơ quan chức năng. 

Sự im lặng và không tố giác này vô tình tước đi cơ hội được giải cứu sớm của các em, khiến nhiều vụ việc đau lòng chỉ bị phát hiện khi hậu quả đã quá muộn màng. Do đó, nếu không thay đổi nhận thức một cách đồng bộ từ tư duy giáo dục của cha mẹ cho đến trách nhiệm lên tiếng của toàn xã hội, chúng ta sẽ rất khó để tạo ra một môi trường thực sự an toàn cho trẻ em vững bước. 

bao-ve-tre-em-3-1773721348535951908092-1785227425216256243312
Cha mẹ, người giám hộ, thầy cô giáo và các cơ sở giáo dục đều có trách nhiệm chăm sóc, bảo vệ và giáo dục trẻ em. (Ảnh: Báo Chính phủ)

PV: Dù chuyển đổi số đang diễn ra mạnh mẽ, nhiều vụ bạo hành và xâm hại trẻ em vẫn chỉ được phát hiện khi hậu quả đã nghiêm trọng. Theo ông, nguyên nhân xuất phát từ những "lỗ hổng" nào trong cơ chế bảo vệ trẻ em hiện nay?

TS. LS. Đặng Văn Cường: Bên cạnh bạo hành trong đời sống thực, trẻ em hiện nay còn phải đối mặt với nhiều nguy cơ trên môi trường mạng như bắt nạt trực tuyến, dụ dỗ, lừa đảo, xâm hại tình dục qua mạng hoặc bị phát tán hình ảnh riêng tư. Tuy nhiên, cơ chế giám sát, phát hiện và xử lý các hành vi xâm hại trẻ em trên không gian mạng vẫn còn nhiều hạn chế.

Đồng thời, một khoảng trống khác trong cơ chế bảo vệ trẻ em chính là sự chậm nhịp trong việc chuyển đổi số và ứng dụng công nghệ để giám sát, phát hiện các nguy cơ bạo lực, đặc biệt là đối với những trẻ em đang sống trong môi trường có rủi ro cao. 

Trong kỷ nguyên số, chúng ta vẫn đang thiếu một hệ thống dữ liệu số đồng bộ và các công cụ công nghệ thông minh để tiếp nhận thông tin, xây dựng cơ sở dữ liệu dùng chung, giúp cơ quan chức năng nhận diện sớm các nhóm trẻ em có nguy cơ cao để theo dõi, hỗ trợ và can thiệp kịp thời.

Hoạt động của các kênh tiếp nhận như Tổng đài 111 tuy đã có cải thiện nhưng nhìn chung vẫn còn mang tính thụ động, chỉ xử lý khi sự việc đã xảy ra và có người báo cáo, chứ chưa xây dựng được cơ chế chủ động rà soát, tầm soát rủi ro dựa trên nền tảng dữ liệu lớn.

Khoảng trống này càng lộ rõ khi đặt trong bối cảnh mối liên kết giữa ba bên bao gồm gia đình, nhà trường và các cơ quan chức năng vẫn còn lỏng lẻo, chưa có một mạng lưới quản trị số thống nhất để chia sẻ thông tin kịp thời. 

Sự thiếu hụt về nguồn lực chuyên trách bảo vệ trẻ em và nguồn kinh phí đầu tư cho hạ tầng công nghệ, trang thiết bị kỹ thuật số tại các địa phương cũng làm hạn chế năng lực can thiệp khẩn cấp. Hệ quả là, trong khi không gian mạng ngày càng phát triển phức tạp thì các công cụ kỹ thuật số hỗ trợ cho công tác phòng ngừa, ngăn chặn bạo lực gia đình lại chưa đáp ứng được yêu cầu, dẫn đến việc nhiều vụ việc đau lòng chỉ được phát hiện khi hậu quả đã trở nên quá nghiêm trọng.

Bên cạnh đó, một "lỗ hổng" khác không thể không nhắc đến là việc trang bị “vắc-xin số” cho trẻ em và phụ huynh vẫn còn mang tính hình thức, chưa theo kịp tốc độ phát triển của thời đại. Công tác tuyên truyền pháp luật và giáo dục kỹ năng tự bảo vệ hiện nay đa phần vẫn đi theo lối mòn truyền thống, thiếu các giải pháp tương tác số hấp dẫn để thu hút các em. 

Nhiều phụ huynh bận rộn chưa nhận thức đầy đủ về quyền trẻ em, trong khi bản thân các em lại thiếu hụt những kiến thức, kỹ năng số cần thiết để nhận diện bạo lực hoặc biết cách tận dụng các công cụ công nghệ để phát tín hiệu cầu cứu, tìm kiếm sự hỗ trợ khi bị xâm hại. Chính sự thiếu hụt đồng bộ về cả cơ chế quản lý số lẫn năng lực số của cộng đồng đã khiến việc bảo vệ trẻ em trước các hành vi bạo lực chưa đạt được hiệu quả phòng ngừa như mong muốn.

Ảnh 2-2
Việc hoàn thiện cơ chế bảo vệ trẻ em, ứng dụng công nghệ trong giám sát và nâng cao trách nhiệm cộng đồng là những giải pháp quan trọng để ngăn ngừa bạo hành, xâm hại trẻ em hiện nay. (Ảnh: Tạp chí Trẻ em Việt Nam)

Từ quyền được bảo vệ đến chế tài pháp luật

PV: Trong bối cảnh chuyển đổi số và sự xuất hiện của nhiều nguy cơ mới đối với trẻ em, ông đánh giá thế nào về hiệu quả thực thi các quy định pháp luật về bảo vệ trẻ em hiện nay?

TS. LS. Đặng Văn Cường: Hệ thống pháp luật Việt Nam hiện nay về cơ bản đã có đầy đủ quy định để bảo vệ trẻ em, thể hiện sự quan tâm rất lớn của Đảng và Nhà nước đối với công tác chăm sóc, bảo vệ trẻ em. Luật Trẻ em cũng quy định rất rõ các hành vi bị nghiêm cấm như bạo hành, xâm hại, bỏ mặc, bóc lột hay xâm phạm danh dự, nhân phẩm trẻ em; đồng thời đặt ra trách nhiệm của gia đình, nhà trường, cơ quan chức năng và toàn xã hội trong việc bảo vệ trẻ em.

Tuy nhiên, trên thực tế, việc ghi nhận quyền trẻ em trong luật thôi là chưa đủ, mà quan trọng hơn là phải có cơ chế để bảo đảm các quyền đó được thực hiện hiệu quả. Muốn làm được điều này cần có nguồn ngân sách, cơ sở vật chất, đội ngũ chuyên trách và cơ chế phối hợp đủ mạnh để hỗ trợ, can thiệp kịp thời khi trẻ em bị bạo hành hoặc rơi vào hoàn cảnh nguy hiểm.

Trong nhiều năm, Việt Nam vẫn còn khó khăn về nguồn lực dành cho công tác bảo vệ trẻ em, dẫn tới thiếu cơ quan chuyên trách, thiếu nhân sự, thiếu các cơ sở hỗ trợ, chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt. Đây là một trong những nguyên nhân khiến việc phát hiện và can thiệp trong nhiều vụ bạo hành còn chậm.

Đáng chú ý, dù Luật Trẻ em đã có quy định về nhóm trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt cần được bảo vệ tốt hơn, nhưng vẫn chưa bao quát hết những trường hợp trẻ sống trong môi trường tiềm ẩn nguy cơ cao như gia đình không hạnh phúc, sống cùng cha dượng, mẹ kế, cha mẹ nghiện rượu, nghiện ma túy hoặc có lối sống lệch chuẩn để có cơ chế giám sát, hỗ trợ sớm.

Sau gần 10 năm thực hiện, Luật Trẻ em cũng đã bộc lộ một số hạn chế nhất định, đặc biệt là sự thiếu vắng các chế tài cụ thể về trách nhiệm cộng đồng, cơ chế phối hợp, ứng dụng công nghệ và đặc biệt là nguồn lực để đưa luật đi vào cuộc sống. Theo tôi, muốn giảm thiểu tối đa tình trạng bạo hành và xâm hại trẻ em trong bối cảnh hiện nay, bên cạnh việc hoàn thiện khung pháp lý bắt kịp dòng chảy của kỷ nguyên số, chúng ta cần ưu tiên tăng cường nguồn lực đầu tư cho hạ tầng công nghệ bảo vệ trẻ em. 

Điều này bao gồm việc xây dựng một hệ thống dữ liệu đồng bộ, phát triển đội ngũ chuyên trách am hiểu công nghệ để giám sát, can thiệp khẩn cấp, đồng thời nâng cao trách nhiệm số của toàn xã hội trong việc chủ động phát hiện, báo cáo thông tin qua các nền tảng trực tuyến nhằm bảo vệ trẻ em kịp thời cả ngoài đời thực lẫn trên không gian mạng.

Trách nhiệm của cộng đồng trong bảo vệ trẻ em

PV: Để tăng hiệu quả phòng ngừa bạo hành trẻ em, cần bổ sung hoặc siết chặt những giải pháp nào về pháp luật, giám sát và cơ chế phối hợp liên ngành?

TS. LS. Đặng Văn Cường: Cùng với sự phát triển của xã hội, đặc biệt trong bối cảnh đẩy mạnh chuyển đổi số, cải cách thủ tục hành chính và tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp, công tác bảo vệ trẻ em sẽ có nhiều điều kiện thuận lợi hơn để tăng cường giám sát và phối hợp liên ngành so với trước đây.

Bởi vậy, ở cấp xã cần có bộ phận chuyên trách về bảo vệ trẻ em với đội ngũ cán bộ có chuyên môn về tâm lý, giáo dục, y tế và công tác xã hội. Đặc biệt, cần nghiên cứu xây dựng lực lượng chuyên trách theo hướng “cảnh sát trẻ em” để thực hiện nhiệm vụ phản ứng nhanh khi có thông tin trẻ em bị bạo hành, kịp thời can thiệp, ngăn chặn, bảo vệ an toàn cho trẻ và cách ly người bạo hành để xử lý theo quy định của pháp luật.

Trên cơ sở dữ liệu dân cư và dữ liệu số hóa, cơ quan chức năng cần có cơ chế nhận diện, phân loại những trẻ em thuộc nhóm có nguy cơ cao bị bạo hành, chẳng hạn sống trong gia đình thiếu hạnh phúc, sống cùng cha dượng, mẹ kế, hoặc có cha mẹ, người giám hộ nghiện rượu, nghiện ma túy, có tiền án tiền sự, thường xuyên bạo lực. Đối với những trường hợp này cần có cơ chế giám sát, hỗ trợ đặc biệt và yêu cầu người trực tiếp nuôi dưỡng cam kết thực hiện đầy đủ trách nhiệm bảo vệ trẻ em.

Bên cạnh đó, cần tăng cường giáo dục kỹ năng tự bảo vệ cho trẻ phù hợp với từng độ tuổi để các em hiểu được quyền của mình và biết cách tìm kiếm sự hỗ trợ khi bị xâm hại hoặc bạo hành.

Ảnh màn hình 2026-08-24 lúc 10.17.26
Trong kỷ nguyên số, việc bảo vệ trẻ em cần được thực hiện đồng thời trên môi trường thực và không gian mạng, với sự tham gia chủ động của gia đình, cộng đồng và cơ quan chức năng. (Ảnh: Tạp chí Trẻ em Việt Nam)

Tôi cũng cho rằng cần hoàn thiện các quy định pháp luật để nâng cao trách nhiệm của cộng đồng, đặc biệt là hàng xóm, người thân, giáo viên và những người xung quanh khi phát hiện hoặc nghi ngờ trẻ em bị bạo hành. Khi trách nhiệm của gia đình được nâng cao, trẻ em có kỹ năng tự bảo vệ, cộng đồng có ý thức tố giác và cơ quan chức năng có lực lượng chuyên trách cùng hệ thống giám sát hiệu quả thì việc phòng ngừa, phát hiện và xử lý hành vi bạo hành trẻ em sẽ kịp thời hơn, từ đó hạn chế những vụ việc đau lòng như thời gian qua.

PV: Từ góc độ chuyên gia pháp lý, ông muốn gửi thông điệp gì tới các bậc phụ huynh, cộng đồng và cơ quan chức năng nhằm chung tay xây dựng môi trường sống an toàn hơn cho trẻ em?

TS. LS. Đặng Văn Cường: Muốn ngăn chặn tình trạng bạo hành trẻ em, trước hết cần thay đổi nhận thức xã hội rằng việc cha mẹ đánh đập, xúc phạm hay dùng bạo lực để dạy con không phải là chuyện bình thường trong gia đình mà là hành vi vi phạm pháp luật. Quan niệm “thương cho roi cho vọt” đã lỗi thời và trong nhiều trường hợp chính là nguyên nhân khiến trẻ em bị tổn thương cả thể chất lẫn tinh thần.

Bảo vệ trẻ em không phải trách nhiệm của riêng bất cứ ai mà là trách nhiệm chung của toàn xã hội. Để hạn chế các vụ việc đau lòng, cần sớm hoàn thiện cơ chế bảo vệ trẻ em theo hướng chủ động phòng ngừa. Cơ quan chức năng cần rà soát, nhận diện nhóm trẻ em sống trong môi trường có nguy cơ cao như gia đình thường xuyên xảy ra bạo lực, sống cùng cha dượng, mẹ kế có biểu hiện lệch chuẩn, nghiện ngập hoặc có tiền án tiền sự để có biện pháp theo dõi, hỗ trợ phù hợp.

Cùng với đó, cần tăng đầu tư ngân sách cho công tác bảo vệ trẻ em, xây dựng đội ngũ chuyên trách đủ năng lực về tâm lý, giáo dục, công tác xã hội và hỗ trợ pháp lý. Việt Nam cũng nên nghiên cứu mô hình lực lượng phản ứng nhanh hoặc “cảnh sát trẻ em” như một số quốc gia đang áp dụng để kịp thời tiếp nhận thông tin, can thiệp và bảo vệ trẻ khi có nguy cơ bị xâm hại.

Một vấn đề rất quan trọng khác là phải phổ biến rộng rãi Tổng đài Quốc gia bảo vệ trẻ em 111 để người dân, giáo viên và chính trẻ em biết cách tìm kiếm sự giúp đỡ. Đồng thời, pháp luật cũng cần nghiên cứu bổ sung cơ chế gắn trách nhiệm đối với những người biết hoặc phát hiện dấu hiệu trẻ em bị bạo hành nhưng không trình báo cơ quan chức năng.

Trong kỷ nguyên số, bảo vệ trẻ em không chỉ là bảo vệ các em khỏi bạo lực ngoài đời thực mà còn là bảo vệ các em trước những nguy cơ trên không gian mạng. Mỗi phụ huynh cần trở thành một “người đồng hành số”, giúp con sử dụng Internet an toàn, biết nhận diện rủi ro và tìm kiếm sự trợ giúp khi cần thiết.

Mức độ bảo vệ trẻ em cũng phản ánh mức độ văn minh và an toàn của xã hội. Mục tiêu lớn nhất vẫn là để mọi trẻ em được sống trong môi trường an toàn, lành mạnh, được phát triển đầy đủ về thể chất, tinh thần và được bảo đảm các quyền cơ bản theo quy định pháp luật.

Để làm được điều đó cần sự vào cuộc đồng bộ của cả hệ thống chính trị, gia đình, nhà trường và cộng đồng. Quan trọng nhất vẫn là trách nhiệm của người lớn - những người phải có đủ tình yêu thương, kiến thức và kỹ năng để nuôi dạy trẻ em bằng sự tôn trọng thay vì bạo lực.

Bất kỳ hành vi xâm phạm quyền trẻ em nào cũng phải bị xử lý nghiêm minh. Dù người phạm tội có phải trả giá bằng bản án rất nặng thì phía sau mỗi vụ việc vẫn là những nỗi đau kéo dài, những đứa trẻ bị tổn thương và những bi kịch không gì bù đắp được đối với gia đình và xã hội.

Xin trân trọng cảm ơn ông vì những chia sẻ ý nghĩa!